Tạ Hành Chu không đưa tôi về nơi ở, mà đến Sở Trắc họa cũ. Tòa nhà đó nằm sau kho cảng vụ, đã bị bỏ hoang từ hai năm trước do nền móng bị nước triều ăn mòn. Trước đây tôi chê nó cầu thang hẹp, cửa sổ lùa gió, nay đẩy cửa bước vào lại thấy mặt bàn sạch sẽ, trên tường treo đầy những tấm bản đồ cũ c/ắt thành từng dải. Mỗi tấm chỉ đá/nh dấu một đoạn đường nhỏ, như thể có người cố tình chia nhỏ thành phố hoàn chỉnh ra để tránh việc bị xóa sổ cùng một lúc.
"Anh vẫn luôn ở đây sao?" tôi hỏi.
"Không hẳn." Anh chốt cửa lại, "Cần phải đổi chỗ. Bản đồ gốc hoàn chỉnh để càng lâu, càng dễ bị khế ước tìm thấy."
Tôi không hỏi "khế ước" là gì, mà trải hai tấm bản đồ thành phố lên bàn dài trước. Đây là thói quen làm việc chung trước đây: x/ác nhận những thứ có thể kiểm chứng, rồi mới bàn đến chuyện ai đã nói gì.
Bản đồ của tôi lấy phiên bản sửa đổi của Sở Bản đồ ba năm trước làm gốc, còn tấm của Tạ Hành Chu thì sớm hơn mười hai năm. Vòng ngoài cùng của cả hai tấm đều có bảy tuyến đường ra khỏi thành, những chỗ trùng lặp đều được khoanh bằng mực xanh triều cực nhạt. Phố Hải Đăng là con đường thứ nhất. Con đường thứ hai gọi là dốc Thạch Âu, từ kho Bắc lên đến cổng núi; con đường thứ ba là đường Ngư Lương dọc theo sông nội đô dẫn tới trạm Nam. Bốn con đường còn lại trên tấm bản đồ tôi đang dùng hiện nay đều đã bị đổi tên hoặc c/ắt ngắn.
"Làm sao anh biết ngày mai đến lượt con đường nào?" tôi hỏi.
Anh lấy ra một mảnh giấy da cá trong suốt, phủ lên giữa hai tấm bản đồ. Trên đó vẽ bảy đường cung mực nước triều.
"Mỗi khi thủy triều rút một thước, tháp Hậu Triều sẽ 'ăn' mất một lối ra. Đêm qua bắt đầu rút thước thứ nhất, sáng mai sẽ đến thước thứ hai."
"Tháp ăn đường?"
"Không phải tháp. Tháp chỉ là cái neo của khế ước."
Tôi ngước mắt nhìn. Anh biết tôi gh/ét sự m/ập mờ, nên đẩy một cuốn ghi chép mỏng về phía tôi. Bên trong chỉ có ngày tháng, độ cao mực triều, tên đường và một dòng ghi chú lặp lại bảy lần: Mượn một ngày, trả một đường.
Cuối trang giấy có dấu ấn cũ của Hội đồng thành phố, nhưng mực dấu đã bị cạo đi.
"Mười hai năm trước, vụ hỏa hoạn ở kho Nam đã th/iêu rụi khu cảng trong ba ngày," Tạ Hành Chu nói, "Lúc đó vùng biển ngoài lại phong tỏa, Hội đồng đã dùng tháp Hậu Triều để khởi động một khế ước thời gian. Thành phố nhận được bảy buổi sáng lặp lại, mỗi lần đều có thể sửa đổi một chút về công tác c/ứu hộ và tái thiết. Cái giá không phải trả vào lúc đó, mà là mượn từ tương lai."
Tôi nhớ lại vụ hỏa hoạn mà mình từng nghe kể hồi còn nhỏ. Ai cũng bảo dù thảm họa đó lớn nhưng thương vo/ng lại ít hơn dự tính rất nhiều, như thể Lan Cảng cực kỳ may mắn vậy.
"Vậy nên giờ họ đến đòi n/ợ?"
"Đúng."
Tôi hỏi anh tại sao chỉ có chúng tôi nhớ được. Anh chỉ vào mực Định Triều. Mười hai năm trước, khi khế ước thời gian khởi động, các họa đồ sư phải vẽ lại những thay đổi trước mỗi lần thiết lập lại, nếu không ngay cả đội c/ứu hộ cũng sẽ quên mất vòng trước họ đã đi qua đâu. Mực Định Triều trở thành thứ duy nhất có thể vượt qua sự xóa sổ. Về sau những người tham gia phần lớn đều qu/a đ/ời, bản đồ gốc cũng bị Hội đồng thu hồi. Ba năm trước, anh tìm thấy một tấm bản đồ gốc chưa bị sửa đổi trong kho cũ, mới phát hiện thời hạn trả n/ợ sắp đến.
"Anh đã không nói với tôi."
"Lúc đó tôi còn chưa biết làm sao để giữ lại bản đồ."
"Vậy nên anh biến mất?"
Anh nhìn tôi một cái, không hề biện minh. "Đúng."
Câu trả lời này khiến tôi gi/ận hơn bất kỳ lý do nào khác.
Tôi nén lời vào trong, tiếp tục xem bản đồ. Sau khi chồng hai phiên bản lên nhau, con đường c/ứu hộ phân nhánh ở đoạn giữa phố Hải Đăng hiện lên rõ mồn một đến kinh ngạc. Nó xuyên qua bức tường chợ cá hiện đã bị chặn lại, dẫn thẳng đến đài cao ở đê ngoài. Nếu thành phố thực sự gặp cảnh nước triều dâng ngược, dốc Nam sẽ thấp hơn nó gần một trượng.
"Chúng ta có thể vẽ con đường đó trở lại không?"
"Có thể thử."
"Cái giá của việc thử nghiệm là gì?"
Tạ Hành Chu im lặng một lúc, lấy ra tờ giấy thứ ba. Trên đó chỉ có nét chữ của riêng anh: Khôi phục một con đường bị khế ước xóa bỏ cần hai phiên bản bản đồ khác nhau chồng lên nhau tại vị trí cũ, dùng mực Định Triều viết lại tên cũ, và phải có hai người vẫn còn nhớ con đường đó cùng x/ác nhận.
Tôi nhìn xuống khoảng trống phía dưới.
"Còn gì nữa không?"
"Không biết."
Câu nói này lại khiến tôi tin anh thêm một chút. Điểm đáng gh/ét nhất nhưng cũng đáng tin nhất ở anh trước đây, chính là khi không biết thì tuyệt đối không giả vờ hiểu.
Buổi chiều, Cao Thận Ngôn đích thân đến Sở Trắc họa cũ tìm tôi. Ông ta đứng ở cửa, ánh mắt lướt qua tấm bản đồ trên bàn, thần sắc không chút ngạc nhiên.
"Họa sư Lâm, sở đang đợi bản đồ mới của anh đấy."
"Phố Hải Đăng không phải là lỗi đo đạc."
"Có vài con đường cũ không còn ý nghĩa hành chính nữa."
"Là không còn, hay là không được phép để người ta nhớ đến?"
Sắc mặt ông ta cuối cùng cũng thay đổi.
Tạ Hành Chu không lên tiếng. Nhưng từ khoảnh khắc khựng lại đó của Cao Thận Ngôn, tôi biết ông ta biết về khế ước thời gian.
Cao Thận Ngôn chỉ nói: "Đừng mang chuyện của mười hai năm trước về ngày hôm nay. Khế ước đó đã c/ứu rất nhiều người."
"Nếu hôm nay nó muốn lấy đi lối thoát thì sao?"
"Thành phố có sự sắp đặt khác."
"Sắp đặt gì?"
Ông ta không trả lời.
Chạng vạng, tôi quay lại chợ cá, nước triều đã rút đến bậc đ/á thứ nhất. Bức tường tại vị trí cũ của phố Hải Đăng trong ánh hoàng hôn yên tĩnh như thể đã tồn tại cả trăm năm.
Tạ Hành Chu cuộn hai tấm bản đồ lại, hỏi tôi có còn muốn thử không.
Tôi nhìn mụ Mai đẩy xe hàng vòng qua dốc Nam, lại nhìn đường c/ứu hộ trên cao đã bị xóa bỏ trên bản đồ.
"Đêm nay triều thấp," tôi nói, "Trước tiên hãy tìm lại con đường thứ nhất."
Anh gật đầu.
Tôi nói thêm một câu: "Chỉ sửa đường thôi. Chuyện anh mất tích ba năm, tính sau."
Anh đáp khẽ: "Được."
Đây là lần đầu tiên chúng tôi đạt được đồng thuận sau khi gặp lại.
Cũng là lần đầu tiên tôi cảm nhận rõ ràng rằng, thứ biến mất khỏi thành phố vào ngày mai, có lẽ không chỉ là một con phố.