La Tuyết Dung sống ở tầng trên cùng của một khu chung cư cũ không có thang máy.
Bà mở cửa, nhìn thấy hộp chống ẩm trong tay tôi mà không hỏi tôi là ai. Bà chỉ liếc nhìn nhãn dán năm tháng ở góc hộp rồi mở rộng cửa ra.
“Cuối cùng cô vẫn rửa nó,” bà nói.
Tôi đứng ở hiên nhà không nhúc nhích. “Bà biết tôi sẽ đụng phải nó sao?”
“Tôi biết sớm muộn gì Trình Tự Xuyên cũng sẽ chuyển những thứ đó đi,” bà xoay người đi vào trong, “nhưng không ngờ lại rơi vào tay cô.”
Phòng khách một nửa giống như nhà ở, một nửa giống kho lưu trữ, dọc theo tường là tủ hút ẩm, đèn xem phim và các thùng vật chứng cũ. La Tuyết Dung làm công tác giám định hình ảnh trước khi nghỉ hưu.
Tôi bày những ghi chép của tối qua và hôm nay ra cho bà xem.
Bà xem danh sách ba lỗ hổng ký ức tôi liệt kê trước, rồi mới nhìn đến kích thước giấy ảnh.
“Bức thứ ba chưa định hình cũng xảy ra chuyện sao?”
“Hình ảnh vừa hiện lên là bắt đầu rồi.”
Bà gật đầu: “Giống hệt những gì tôi ghi chép trước đây.”
Bà lấy từ ngăn kéo ra một cuốn sổ ghi chép bằng giấy. Không có ký hiệu bí ẩn, cũng không có câu chuyện, chỉ là ngày tháng, số hiệu phim, người tráng rửa, ký ức bất thường xuất hiện và những thứ mất đi sau đó.
Bản ghi chép sớm nhất là hơn hai mươi năm trước. Có người sau khi tráng ảnh hiện trường vụ t/ai n/ạn xe hơi, đã nói ra chuyện nhiếp ảnh gia giấu kín vật chứng, nhưng hôm sau lại quên mất lễ tốt nghiệp của con gái; một lần khác, người tráng ảnh nói ra chuyện nhiếp ảnh gia từng nhận tiền, cái giá phải trả là quên mất một đoạn ký ức trong ngày cưới.
“Nó chọn ký ức bị lấy đi như thế nào?” Tôi hỏi.
“Tôi không biết,” La Tuyết Dung nói, “chỉ biết đa phần nó sẽ lấy đi những thứ gần gũi với người tráng ảnh về nhân vật, địa điểm hoặc cảm xúc trong ảnh. Càng quan trọng thì càng dễ bị đụng phải.”
“Có thể khôi phục không?”
Bà lắc đầu: “Có người nhờ nhật ký mà biết được chuyện gì đã xảy ra, nhưng biết và nhớ là hai chuyện khác nhau.”
Câu này tôi hiểu hoàn toàn.
Tôi biết mình và Trình Tự Xuyên đã ở lại thêm một đêm trong chuyến du lịch đầu tiên vì hồ sơ đặt phòng ghi như vậy; nhưng tối đó quyết định thế nào, trong đầu tôi chỉ còn lại thông tin trên mặt giấy.
La Tuyết Dung bảo tôi đặt cuộn phim lên đèn xem phim.
Bà đeo găng tay, dùng kính lúp soi vài khung hình, chỉ cho tôi vết xước hình cung tương tự ở mép phim.
“Này không phải do máy chạy phim làm xước,” bà nói, “có người dùng lưỡi d/ao cực mảnh cạo bỏ thứ gì đó từ lớp nhũ tương. Tự Xuyên năm đó làm rất cẩn thận, nhưng hướng thì nhất quán.”
“Bà biết là anh ấy?”
“Tôi đoán được. Khi cuộn phim đó được gửi đến, anh ta chỉ hỏi tôi có cách nào làm cho chỗ bị cạo đi vĩnh viễn không nhìn thấy được không.”
Tôi ngước mắt nhìn.
“Bà trả lời thế nào?”
“Tôi nói nếu chỉ là phim bình thường thì có lẽ được. Nhưng những thứ chiếc máy ảnh đó để lại, không nằm hoàn toàn trên bề mặt hình ảnh.”
Bà dẫn tôi vào một căn phòng nhỏ hơn, lấy ra một chiếc hộp kim loại màu xám từ tủ chống ch/áy.
Trong hộp chỉ có một cuộn phim.
“Này là cuộn phim chụp đêm cuối cùng trước khi Diệp Minh Phi mất tích,” bà nói.
Tôi không chạm vào.
“Tại sao nó ở chỗ bà?”
“Sau khi vụ án mất tích được điều tra lần đầu, Tự Xuyên tìm đến tôi. Anh ta muốn tiêu hủy nó. Tôi không đồng ý, nên đã cất đi trước.”
“Tại sao bà không giao cho cảnh sát?”
Bà im lặng một lúc.
“Lúc đó tôi không có cách nào chứng minh cuộn phim này chưa bị động chạm. Vết xước quá nhiều, hình ảnh khiếm khuyết, hơn nữa chính tôi cũng từng thử tráng một khung hình.”
Tôi nhìn bà.
“Bà đã thấy gì?”
“Tôi không thấy. Vì lúc đó tôi để trợ lý làm tấm đầu tiên.”
Tay bà dừng ở mép hộp: “Cậu ấy tráng xong đã nói ra một đoạn đối thoại chỉ Tự Xuyên và Minh Phi biết, nhưng hôm sau lại quên mất mẹ mình đã qu/a đ/ời. Cậu ấy sợ hãi, tôi cũng không dám thử nữa.”
Tôi hỏi: “Còn khung hình đó đâu?”
“Chỉ có Minh Phi đứng ngoài nhà in, hình ảnh không đủ bằng chứng. Số còn lại tôi niêm phong hết.”
Tôi nhìn chằm chằm vào cuộn phim đó, lồng ngựk nặng trĩu.
“Nếu bây giờ tráng, có thể bù đắp lại hình ảnh đã bị cạo đi không?”
“Lớp nhũ tương đã mất đi không thể tự mọc lại,” La Tuyết Dung nói, “nhưng rắc rối của chiếc máy ảnh này chưa bao giờ chỉ nằm ở hình ảnh. Chỉ cần bức ảnh hoàn thành, ký ức mà người chụp muốn che giấu lúc đó sẽ đi vào n/ão bộ người tráng ảnh. Đó có thể bù đắp những chuyện trước và sau vết xước.”
“Cũng có thể chỉ là ký ức chủ quan của Trình Tự Xuyên.”
“Đúng.”
Bà trả lời dứt khoát, tôi lại cảm thấy an tâm hơn một chút.
“Vậy nên dù tôi có rửa hết, cũng không thể lấy những thứ trong n/ão tôi làm vật chứng.”
“Không thể,” La Tuyết Dung nói, “Thứ cô có thể giao ra là cuộn phim gốc, thứ tự vết xước, hình ảnh có thể nhận diện, và việc Tự Xuyên có nguyện ý ra làm chứng lại hay không. Ký ức cô nhận được, chỉ có thể cho cô biết nên điều tra theo hướng nào.”
Tôi nhìn chiếc hộp.
Giới hạn này rất quan trọng. Những thứ siêu nhiên có thể làm tổn thương tôi, nhưng không thể thay tôi bỏ qua những đá/nh giá chuyên môn.
La Tuyết Dung đẩy chiếc hộp vào lại trong tủ.
“Cô có thể không đụng vào nó,” bà nói, “Niêm phong lại thì nó cũng sẽ không lấy đi ký ức của ai nữa.”
“Vậy đêm cuối cùng của Diệp Minh Phi sẽ mãi mãi là một khoảng trống.”
“Đúng.”
Tôi hỏi bà, nếu thực sự muốn làm, cần bao nhiêu tấm.
Cuộn cuối cùng có 36 khung, 19 khung có nội dung, 7 khung bị xước nặng. Không cần thiết phải phóng to tất cả, nhưng bất kỳ tấm nào chỉ cần hình ảnh hiện ra trọn vẹn, đều có thể kích hoạt sự chuyển giao.
Tôi tính toán một chút.
Ngay cả khi chỉ làm 19 tấm, cũng có thể mất đi 19 đoạn ký ức của chính mình.
Trước khi rời đi, La Tuyết Dung gọi tôi lại.
“Hứa Tri Vi.”
Tôi quay đầu.
“Cô không phải là công cụ của vụ án mất tích. Không ai có quyền vì sự thật quan trọng mà thay cô quyết định phải trả giá bao nhiêu.”
Tôi đặt tay lên tay vịn cầu thang, dừng lại vài giây rồi mới gật đầu.
Đêm đó trở về studio, tôi không mở phòng tối.
Tôi chỉ sắp xếp lại danh sách ký ức của mình, bên cạnh thêm một cột mới: Có sẵn lòng mất đi không?
Câu hỏi đầu tiên, tôi viết là: Nụ hôn đầu tiên.
Tôi nhìn chằm chằm rất lâu, không đá/nh dấu vào.