Hai ngày trước buổi họp thực đơn, tôi nói chuyện với chị Thẩm trước.
Chị ấy làm tình nguyện viên ở bếp ăn cộng đồng nhiều năm, ban ngày chăm sóc người chồng bị mất trí, chiều rảnh rỗi lại đến thái rau. Khi nghe tôi kể về tình trạng vị giác của mình, chị đang gọt dở củ cà rốt, không hề tỏ ra ngạc nhiên như tôi tưởng tượng.
“Thế nên dạo này em không bao giờ tranh phần nếm súp nữa.” Chị nói.
“Chị phát hiện ra từ lâu rồi sao?”
“Chỉ thấy em có gì đó lạ lạ.”
Tôi cười khổ.
Chị Thẩm đặt d/ao bào xuống. “Em sợ bọn chị thấy em không làm được việc?”
“Dạ.”
“Cái đó còn tùy là làm việc gì.” Chị nói rất thẳng thắn, “Mắt chị kém, giờ cũng không phụ trách đọc nhãn dán chữ nhỏ. Điều đó không có nghĩa là chị không thái được rau.”
Một câu nói rất bình thường, nhưng lại khiến lồng ngựk tôi trút được một gánh nặng.
Chúng tôi tận dụng khoảng trống buổi chiều, trải thực đơn tháng sau ra bàn. Trong những phản hồi mà Giang Trừng Vũ mang về, có người chê th!t quá dai, có người thấy cháo quá loãng, cũng có người chỉ viết “Tuần này có rau xanh là được”.
Đỗ Tiểu Mãn hy vọng có thêm nhiều suất ăn dị ứng không cần phải m/ua nguyên liệu riêng, vì cô không muốn lần nào cũng như đang đi xin một phần ăn được xử lý đặc biệt. Bác Lương thì kiên quyết không được bỏ món đậu phụ ngày thứ Tư. Chị Thẩm muốn giữ lại món cơm nấu khoai môn mà chồng chị vẫn còn nhận ra, vì đó là một trong số ít những món khiến ông ấy chủ động cầm thìa.
Nếu là trước đây, có lẽ tôi sẽ nghĩ xem thực đơn có đủ đầy hay không, hương vị có hoàn hảo hay không.
Giờ đây tôi hỏi trước: “Ai sẽ ăn dễ dàng hơn nhờ món này?”
Chúng tôi chia thực đơn thành vài nền tảng chung. Phiên bản không mè không còn làm thành “suất đặc biệt” nữa, mà là để hầu hết các món chính vốn đã không dùng mè, chỉ suất nào cần thì thêm vào. Cơm khoai môn được điều chỉnh kích thước hạt, nhưng vẫn giữ được hương thơm của nấm hương và hành phi. Đậu phụ của bác Lương giữ nguyên, lượng đường được điều chỉnh dần dần theo mức bác ấy chấp nhận được.
Khi Giang Trừng Vũ đến, chúng tôi đã viết kín cả tấm bảng trắng.
“Anh đến đúng lúc lắm.” Chị Thẩm nhét bút vào tay anh, “Nói về mấy vấn đề khi giao cơm đi.”
Anh không đứng lên phía trước mà ngồi bên cạnh đọc phản hồi. Có hộ dân vì tay run nên thường làm đổ bát canh tròn; có người chăm sóc hy vọng món chính có thể c/ắt thành miếng nhỏ để gắp bằng một tay. Đây đều là những vấn đề tôi chưa từng gặp khi còn ở nhà hàng.
“Anh nghĩ chúng ta có nên m/ua bát chống trượt không?” Tôi hỏi.
“Cũng cần, nhưng một số chỉ cần đổi sang loại bát thấp hơn là được.” Anh nói, “Để tôi đi xem tình hình sử dụng trước, không cần m/ua cả loạt đâu.”
Chị Thẩm cười anh: “Dạo này cậu rất hay nói câu “để xem trước” đấy.”
Giang Trừng Vũ cũng cười. “Em được nhắc nhở rồi ạ.”
Tôi biết anh đang nói về chính mình, nhưng vẫn chưa biết lý do đầy đủ.
Khi buổi họp sắp kết thúc, tôi viết giới hạn công việc của mình xuống góc dưới bên phải bảng trắng: Tôi không phụ trách nếm thử cuối cùng một mình; chất gây dị ứng và gia vị thay đổi đột xuất phải được kiểm tra chéo bởi hai người; công thức mới cần được x/ác nhận cảm quan bởi ít nhất hai người có vị giác bình thường.
Viết xong, cả căn bếp lặng đi trong giây lát.
Chị La lên tiếng trước: “Ba điều này từ hôm nay trở thành quy trình chính thức.”
Không ai hỏi tại sao tôi bị b/ệnh, cũng không ai bắt tôi phải chứng minh mình còn nếm được bao nhiêu.
Sự tĩnh lặng đó dịu dàng hơn tôi tưởng.
Những ngày sau đó, tôi bắt đầu nhặt lại những thứ mình thực sự giỏi. Chênh lệch nhiệt độ lò nướng tôi nhìn ra, độ đặc của bột tôi phán đoán được, nhiệt độ siro ảnh hưởng đến kết tinh thế nào tôi cũng rành hơn hầu hết các tình nguyện viên. Chỉ là miếng cuối cùng, tôi không còn giả vờ như mình có thể quyết định được nữa.
Lần đầu tiên để chị Thẩm x/ác nhận độ ngọt cuối cùng cho món bánh pudding gạo của tôi, tôi vẫn thấy rất khó chịu.
Chị ăn một miếng rồi bảo: “Nhạt rồi.”
Tôi theo phản xạ muốn phản bác vì đó là công thức tôi tính.
Chị lại ăn thêm một miếng. “Nhạt thật.”
Tôi im lặng hai giây, cho thêm siro vào rồi cân đo ghi chép lại.
Giang Trừng Vũ hôm đó tình cờ đến lấy cơm, thấy tôi đang sửa công thức, anh không nói gì cả.
Sau khi tan làm anh mới hỏi: “Khó chịu lắm sao?”
“Có một chút.”
“Cô có quyền gh/ét việc phải kiểm tra chéo.”
Tôi nhìn anh. “Nhưng vẫn phải làm.”
“Đúng.”
Anh không biến việc chấp nhận giới hạn thành một câu chuyện truyền cảm hứng.
Ngược lại, chính vì thế mà tôi cảm thấy mình dường như thực sự có thể ở lại đây.
Không phải vì mọi người giả vờ như tôi chưa mất đi thứ gì.
Mà vì những phần đã mất cuối cùng đã có phương pháp cùng nhau gánh vác.
Cuối tuần đó, chúng tôi lần đầu tiên để cư dân tự chọn món họ muốn giữ lại cho tháng sau. Kết quả bầu chọn rất lộn xộn: có người muốn th!t hầm, có người chỉ quan tâm cháo đừng quá loãng, có người lại yêu cầu “đừng tuần nào cũng ăn món bí đỏ tốt cho sức khỏe nữa”.
Tôi nhìn những phản hồi xiêu vẹo đó, bỗng thấy rất an tâm.
Một căn bếp nếu thực sự thuộc về nhiều người, thì sẽ không chỉ phát triển theo hình dáng mà một chuyên gia tưởng tượng ra.
Tôi cất phản hồi vào cặp tài liệu, hôm sau lại sắp xếp thực đơn một lần nữa. Lần này tôi không tự hỏi mình “Món nào ngon nhất”, mà là nhìn xem ai sẽ ăn thêm được một miếng, ai sẽ bớt đi một chút sức lực vì món ăn này.