Tôi chọn ra hai mươi bảy ngày thứ Năm từ bản sao lưu ảnh của bà ngoại.
Không phải vì những bức ảnh đó có gì đặc biệt, mà ngược lại, vì chúng quá đỗi bình thường. Nửa bát chè, hai chiếc ô tựa vào chân ghế, bóng cây trước cửa trung tâm văn hóa, một đoạn tay áo màu be phản chiếu trên kính nhà ga. Bà ngoại hiếm khi chụp người, nhưng chỉ cần là "chiều thứ Năm", trong khung hình thường xuất hiện món đồ thứ hai.
Tôi lập ba cột: thời gian chụp gốc, địa điểm trên lịch và trạm xuống xe của thẻ xe buýt. Trong hai mươi bảy lần, có hai mươi ba lần có thể khớp với nhau.
Điều này đủ để chứng minh một quy luật, nhưng vẫn chưa đủ để x/ác định danh tính.
Ngoại lệ duy nhất là một bức ảnh cách đây mười hai năm. Bà ngoại chụp ao trong công viên, trong ánh phản chiếu trên lan can kính thấp thoáng hiện ra hai người phụ nữ. Tôi nhận ra dáng người của bà, người kia trẻ hơn bà một chút, mặc áo khoác màu nhạt. Gương mặt bị điện thoại che khuất, tôi chỉ nhìn thấy trên cổ tay trái có một vết bớt sẫm màu.
Tôi không biết vết bớt đó.
Nhưng mẹ tôi có thể biết.
Tôi không gửi ảnh cho bà. Giờ nghỉ trưa, tôi đến khu chung cư cũ nơi bà ngoại từng sống để tìm hàng xóm cũ. Làm kế hoạch sự kiện lâu năm, tôi rất rõ việc "hỏi người khác" dễ mất kiểm soát hơn là tra c/ứu dữ liệu, một câu "Bà có biết bà ấy qua lại với ai không" sẽ nhanh chóng trở thành câu chuyện của cả con ngõ, nên tôi chỉ hỏi liệu bà ngoại có thường ra ngoài vào thứ Năm hay không.
Một dì sống ở tầng dưới nói, bà ngoại trước đây mỗi thứ Năm đều xách theo một chiếc túi giữ nhiệt nhỏ, lúc thì mang th/uốc, lúc thì mang trái cây. "Mẹ cô chưa lấy chồng đã như vậy rồi," dì ấy nói.
"Có ai đến đón bà không?"
"Không, bà tự đi xe buýt."
Một người hàng xóm khác suy nghĩ hồi lâu, nói từng thấy bà ngoại đưa một chiếc áo len trẻ em cho một người phụ nữ lạ mặt ở đầu ngõ. Đó là chuyện của hơn hai mươi năm trước, bà cũng không dám chắc có phải là thứ Năm hay không.
Tôi chỉ ghi lại "hàng xóm nhớ từng giao đồ", không kết nối nó thành bất kỳ câu chuyện thân thế nào.
Tối về nhà mẹ, tôi hỏi bà có thể cùng xem ảnh không.
Ban đầu bà từ chối, nói bà ngoại mới mất chưa bao lâu, không muốn xem lại. Cho đến khi tôi đặt bức ảnh phản chiếu ở công viên lên bàn, bà mới ngồi xuống.
Bà nhìn lâu hơn tôi tưởng.
"Có quen không ạ?" Tôi hỏi.
Mẹ đẩy bức ảnh về phía tôi. "Không nhìn rõ."
"Còn cổ tay thì sao ạ?"
Những ngón tay của bà khựng lại ở mép bàn.
Tôi không truy hỏi tên, chỉ nói cậu bảo tôi đừng tìm địa chỉ. Tôi muốn biết tại sao.
Mẹ đột nhiên nổi gi/ận. "Nó đã nói với con những gì?"
"Cậu không nói gì cả."
"Vậy thì con đừng lấy một cái bóng ra làm người nhà."
Câu nói này quá cụ thể.
Tôi nhìn bà. "Con chưa bao giờ nói đó là người nhà."
Mẹ đẩy ghế ra sau, lúc đứng dậy đầu gối va vào góc bàn. Bà không kêu đ/au, chỉ cất bức ảnh của bà ngoại vào ngăn kéo.
"Ánh Đường, bà ngoại đã không còn nữa rồi. Con đào bới mọi chuyện lên, người sống vẫn phải sống tiếp."
"Vậy là thực sự có một người còn sống."
Bà không trả lời.
Sau khi về nhà ngày hôm đó, tôi xem lại lịch sử sửa đổi lịch trình. Lần cuối cùng bà ngoại tự sửa "Chiều thứ Năm" trước khi nhập viện, địa điểm là khu vườn công cộng đối diện b/ệnh viện. Thời gian là ba ngày trước khi bà nhập viện.
Sau khi nhập viện, cuộc hẹn này dừng lại sáu tuần.
Tuần thứ bảy, địa điểm xuất hiện trở lại, và thiết bị chỉnh sửa cũng đổi từ điện thoại của bà ngoại sang máy tính bảng ở nhà mẹ.
Đây là bước ngoặt rõ ràng đầu tiên.
Mẹ không phải đợi đến khi bà ngoại qu/a đ/ời mới động vào cuộc hẹn này. Khi bà ngoại lâm b/ệnh nặng, bà đã tiếp quản việc cập nhật.
Tôi khoanh tròn sáu tuần trống và ngày cập nhật lại, đột nhiên nhớ đến khoảng thời gian đó bà ngoại vài lần hỏi tôi "hôm nay là thứ mấy". Tôi cứ tưởng bà bị lẫn lộn ngày đêm sau khi nhập viện.
Có lẽ bà đang đợi thứ Năm.
Tôi không viết suy nghĩ này vào cột bằng chứng, chỉ viết vào ghi chú cá nhân: X/ác nhận mẹ bắt đầu can thiệp từ giai đoạn nhập viện.
Trở về nhà, tôi lại phóng to bức ảnh phản chiếu đó, nhưng nhanh chóng dừng tay. Độ phân giải không đủ, bất kỳ phán đoán "giống một người nào đó" đều chỉ làm phóng đại kỳ vọng của bản thân. Tôi đổi tên tệp thành "Người thứ hai chưa x/ác định", ngay cả từ "phụ nữ" cũng không dám khẳng định. Hành động nhỏ này khiến tôi nhớ đến sai lầm thường gặp nhất trong công việc: một khi tên tệp đã viết sẵn kết luận, người phía sau thường chỉ đi tìm những chi tiết có thể chứng minh cho nó.
Tôi bắt đầu quan tâm hơn đến việc tại sao mẹ lại phản ứng với vết bớt đó, thay vì ép một bức ảnh phải cung cấp đáp án mà nó không có.
Khi tra c/ứu sâu hơn, tôi thấy một câu trong bản nháp chưa gửi của điện thoại bà ngoại.
"Tuần này tôi không thể đi, xin đừng đến b/ệnh viện."
Không có người nhận, không có tên, bản nháp dừng ở đó, chưa bao giờ được gửi đi.
Tôi nhìn chằm chằm vào câu nói đó rất lâu.
Nếu mẹ đã bắt đầu thay bà ngoại đổi lịch trình, thì tin nhắn không được gửi đi đó là do bà ngoại tự quyết định để lại, hay có người thay bà quyết định không gặp mặt nữa?
Lần đầu tiên, tôi cảm thấy một thứ gì đó nặng nề hơn cả sự tò mò đối với sự im lặng của mẹ.
Đó không phải là nghi ngờ.
Mà là tôi bắt đầu hoài nghi, một mối qu/an h/ệ đã từng bị người trong nhà cưỡng ép chấm dứt khi bà ngoại còn sống.