Trước buổi chiếu thử thứ ba, giám đốc tìm gặp tôi.
“Có một quỹ sẵn sàng bù đắp một phần khoản tài trợ đã bị rút.”
Tôi vui mừng trong một giây.
“Điều kiện là gì?”
“Họ hy vọng bản công khai giữ nguyên tính chất tưởng niệm, đoạn kết có thể đặt ảnh của Tình Lam và một đoạn tiểu sử ngắn.”
Tôi im lặng.
“Không phải là khơi gợi cảm xúc quá đà,” giám đốc bổ sung, “chỉ là để khán giả biết bối cảnh của tác phẩm.”
Tôi không từ chối ngay.
Vì lần này ít nhất ông ấy đã hỏi trước.
Buổi tối, tôi đưa đề xuất cho Hạ Hòa xem.
Con bé chỉ nhìn hai dòng.
“Không lấy ảnh.”
“Vậy giới thiệu bằng văn bản thì sao?”
“Có thể viết chị ấy là biên đạo gốc.”
“Tiểu sử?”
Con bé lắc đầu.
“Buổi này là xem chương trình, không phải xem chị ấy bị b/ệnh.”
Lòng tôi nhói lên.
Năm cuối đời, chị tôi đổ b/ệnh rất nhanh, ký ức của nhiều người trong bảo tàng về chị chỉ dừng lại ở việc nằm viện, kêu gọi quyên góp và thăm b/ệnh. Hạ Hòa lại luôn muốn kéo mẹ mình ra khỏi khoảng thời gian đó để trở về với công việc.
“Vậy chúng ta từ chối điều kiện này,” tôi nói.
“Sẽ không có tiền sao?”
“Có thể thiếu một phần.”
Con bé cau mày.
Tôi bổ sung: “Nhưng không phải con phải bù vào.”
Con bé nhìn tôi.
“Con biết.”
Lần này con bé trả lời rất nhanh.
Buổi chiếu thử thứ ba chỉ còn bốn vấn đề chính. Phụ đề ở hai đoạn bản đồ sao mật độ cao vẫn quá nhanh; biên độ rung của tín hiệu tần số thấp vẫn quá mạnh đối với một số người; cách đá/nh số bản đồ sao xúc giác cần thống nhất; danh sách tham gia ở đoạn kết vẫn chưa x/ác định.
Hạ Hòa lần này đồng ý ký tên.
Không phải “Cố vấn”.
Con bé tự chọn “Kiểm tra phụ đề”.
Chu Khải Văn ghi là “Kiểm tra bản đồ sao xúc giác”.
Tôi phụ trách trình chiếu và tích hợp phiên bản.
Tên của chị tôi vẫn ở vị trí đầu tiên, ghi là “Biên đạo gốc”.
Giám đốc khi nhìn danh sách đã nói: “Như thế này rất giống hai giai đoạn khác nhau.”
“Vốn dĩ là vậy.”
Ông ấy không phản bác.
Sau khi kiểm tra kết thúc, lần đầu tiên chúng tôi không xếp lịch cho buổi tiếp theo.
Vì các vấn đề chính đã có thể sửa, nhưng Hạ Hòa phải đi trại hè, tôi cũng có công việc thường nhật ở bảo tàng.
“Có thể đợi,” tôi nói.
Câu nói này trước đây rất khó thực hiện.
Bảo tàng luôn quen xếp lịch, chạy đua quảng cáo, quyết định ngày công chiếu rồi mới chạy nước rút.
Nhưng bộ chương trình này đã dạy tôi rất nhiều lần rằng, thời gian không phải là tiêu chuẩn duy nhất.
Đêm đó, Hạ Hòa bắt đầu thu dọn hành lý đi trại hè.
Tôi ngồi cạnh sofa, giúp con bé kiểm tra thông tin liên lạc khẩn cấp.
Con bé bất chợt hỏi: “Có phải chị hy vọng con chuyển đến nhà chị không?”
Tôi không giả vờ như không quan tâm.
“Đôi khi là vậy.”
“Tại sao?”
“Tiện hơn, và cũng đỡ sợ con ở một mình hơn.”
“Nhưng bây giờ con không muốn.”
“Chị biết.”
“Chị sẽ đợi chứ?”
Tôi suy nghĩ một chút.
“Chúng ta có thể thay đổi sắp xếp liên tục, không nhất thiết phải đợi một đáp án nào đó.”
Con bé gật đầu.
Sau khi chị tôi ra đi, tôi luôn muốn biến sự mất mát thành một trạng thái ổn định mới: hoàn thành chương trình, đón Hạ Hòa về, xếp cuộc sống thành một bộ khung sẽ không bao giờ tan vỡ nữa.
Giờ đây tôi bắt đầu chấp nhận rằng, có những mối qu/an h/ệ chỉ có thể vừa đi vừa điều chỉnh.
Sự ổn định không nhất thiết là mọi người cùng sống trong một mái nhà.
Mà có thể chỉ là việc biết rằng, lần tới khi cần thay đổi sắp xếp, sẽ không ai lén lút quyết định thay cho người kia.
Sau khi quỹ rút lại khoản tài trợ, giám đốc đưa cho tôi xem ngân sách phiên bản mới. Thay vì in số lượng lớn bản đồ sao xúc giác như dự kiến, giờ chỉ có thể làm bản dùng chung tại bảo tàng; việc nâng cấp ghế tần số thấp cũng bị hoãn lại, chỉ có thể điều chỉnh thiết bị hiện có.
Trong lòng tôi thực ra có một khoảnh khắc d/ao động.
Nếu chỉ đặt một bức ảnh làm việc của chị mà đổi lại được thiết bị, liệu có thực sự hoàn toàn không thể chấp nhận được không?
Tôi kể ý nghĩ này cho Hạ Hòa.
Con bé không gi/ận ngay, chỉ hỏi: “Ảnh đặt vào rồi, chương trình có tốt lên không?”
“Không.”
“Vậy là dùng chị ấy để đổi lấy tiền.”
Tôi không nói nên lời.
Cách nói của con bé rất sắc bén, nhưng lại làm cho vấn đề trở nên đơn giản.
Cuối cùng chúng tôi thu nhỏ quy mô bản công khai, không quảng bá rầm rộ, ưu tiên đảm bảo thiết bị hiện tại vận hành ổn định. Giám đốc tuy thất vọng nhưng cũng đồng ý đưa việc tiếp nối sản xuất chương trình hỗ trợ tiếp cận vào ngân sách sản xuất chung sau này, thay vì chỉ dựa vào danh nghĩa tưởng niệm để gây quỹ.
Sự thay đổi này rất chậm, cũng không bù đắp ngay lập tức những tổn thất.
Nhưng nó làm cho bộ chương trình tiếp theo không cần phải đợi đến khi có người đổ b/ệnh hay qu/a đ/ời mới đột nhiên có lý do để làm hỗ trợ tiếp cận.
Sau khi buổi kiểm tra thứ ba kết thúc, Chu Khải Văn đề xuất để lại một bản đồ sao xúc giác có thể cho mượn, để khán giả có thể sờ trước và sau buổi chiếu, không cần nhân viên hướng dẫn vào giờ cố định.
Phía bảo tàng ban đầu lo lắng việc thất lạc.
Tôi đề xuất dùng thẻ thế chân, không cần khóa mọi thứ vào tủ trưng bày.
Hạ Hòa nói: “Mẹ sẽ thích điều này.”
Tôi nhìn con bé.
Con bé tự cười trước. “Lần này là con đoán thôi.”
Tôi cũng cười.
Gần đây chúng tôi bắt đầu có thể nhắc về chị tôi như vậy: có thể đoán, có thể nhớ, có thể không đồng ý, nhưng không giả vờ những phỏng đoán đó là điều chắc chắn chị sẽ nói.
Cách này khiến chị xuất hiện trở lại trong cuộc sống một cách tự nhiên hơn nhiều so với những bức ảnh tưởng niệm.