Tôi chép toàn bộ mã số trên tấm Iót sau của bảy tác phẩm lên bảng trắng, không một tác phẩm nào được đá/nh dấu là D.
Để tránh việc bản thân chỉ chọn lọc những dữ liệu có lợi cho mình, tôi để M/ộ Chân chụp ảnh tình trạng tháo khung của từng tác phẩm, sau đó giao ảnh cho một trợ lý phục chế khác niêm phong. Những ký hiệu mà tôi để lại trước khi gặp sự cố, giờ đây tôi chỉ có thể coi chúng là bằng chứng chứ không phải lời tiên tri. Tôi thậm chí còn giữ lại cả một mã số ghi sai trên bảng, bởi đó là minh chứng cho việc hệ thống này không phải được sắp xếp một cách hoàn hảo sau sự cố chỉ để bào chữa cho tôi.
Trong cơ sở dữ liệu của bảo tàng có một tệp "Ảnh trước khi hiến tặng", ngày chụp là ngày thứ ba sau khi tôi gặp sự cố. Tôi phóng to kiểm tra và phát hiện lúc đó tấm Iót sau vẫn còn, nhưng không ai ghi chú R, H và dấu hỏi vào phần ghi chú nhập lưu giữ. Đây không phải trách nhiệm của nhân viên phục chế, vì phiếu công việc họ nhận được chỉ ghi "Sắp xếp tác phẩm không có chữ ký". Vấn đề là, những thông tin vốn thuộc về nghiên c/ứu nguồn gốc đã bị bỏ qua toàn bộ khi chuyển sang quy trình lưu giữ.
Tôi chép toàn bộ mã số trên tấm Iót sau của bảy tác phẩm lên bảng trắng, không một tác phẩm nào được đá/nh dấu là D.
D là ký hiệu Donation (Hiến tặng) mà tôi thường dùng, chỉ khi cả nguồn gốc và quyền xử lý đều rõ ràng tôi mới viết. Trong bảy bức tranh, bốn bức là R, hai bức là H--Hold (Tạm hoãn xử lý); bức cuối cùng chỉ có một dấu hỏi. Quy tắc này không phải bí mật, M/ộ Chân từng hợp tác với tôi vài lần, cô ấy tìm lại những dự án nghiên c/ứu khác của tôi từ hai năm trước để chứng minh rằng tôi chưa bao giờ dùng R làm ký hiệu tiền đề cho việc hiến tặng vào bảo tàng.
"Vậy là trước khi xảy ra sự cố, ít nhất anh vẫn chưa tra c/ứu xong nguồn gốc." Cô ấy nói.
"Ít nhất là vào lúc viết những chữ này thì chưa." Tôi đính chính.
Tôi không muốn biến bất kỳ manh mối nào trở nên thuyết phục hơn bản chất của nó. Khoảng trống trong ký ức đã khiến quá nhiều người thay tôi hoàn thiện các câu nói, tôi không định tự mình làm việc đó một lần nữa.
Khi M/ộ Chân tháo tấm Iót sau của bức tranh thứ hai, cô ấy tìm thấy một tấm ảnh cũ gấp làm bốn dưới lớp giấy Iót bị axit hóa. Ảnh chụp một xưởng vẽ nhỏ, trên tường treo ba trong số các bức tranh đó, góc dưới bên phải chỉ còn lại một nửa dấu ngày tháng. Trong xưởng vẽ có người quay lưng về phía ống kính, tóc ngắn, tay dính đầy màu xanh thẫm. Mặt sau tấm ảnh vốn có viết tên, sau đó bị d/ao lam cạo đi, chỉ để lại nửa dưới của chữ "Hà".
Tôi bỏ tấm ảnh vào túi trong suốt, quay lại phòng nghiên c/ứu để tra c/ứu tài liệu vận chuyển cũ. Danh mục bằng giấy do nhà sưu tập để lại chỉ ghi "Không đề, bảy kiện", cột nguồn gốc ghi "Chuyển từ xưởng vẽ của Cao Lập Hành". Cao Lập Hành là một đại lý nghệ thuật hoạt động tích cực hơn hai mươi năm trước, đã qu/a đ/ời mười năm trước. Ông ta từng xử lý không ít tác phẩm của các nữ nghệ sĩ thời kỳ đầu, danh tiếng luôn có hai mặt: có người nói ông ta giúp các họa sĩ không có nguồn lực tìm được thị trường, cũng có người nói ông ta có thói quen gói các tác phẩm thành "tài sản xưởng vẽ" mà mình có thể kiểm soát.
Trước đây tôi đã tra c/ứu đến bước nào, sau khi xảy ra sự cố không ai có thể nói cho tôi biết.
Trình Dịch Hành đến đón tôi sau giờ làm. Tôi đặt mã số tấm Iót sau và tấm ảnh trước mặt anh ấy, anh ấy nhìn túi vật chứng trước, rồi nhìn tôi. "Bác sĩ của anh nói mới trở lại làm việc đừng làm liên tục quá lâu."
"Anh trả lời tôi trước. Anh đã từng thấy những mã số này chưa?"
"Chưa."
"Ngày tôi ký hợp đồng, anh có mặt không?"
Anh ấy lắc đầu. "Em gửi bản quét cho anh, nhờ anh xem giúp rủi ro."
"Bản quét đầy đủ?"
Ánh mắt anh ấy khựng lại một thoáng. "Cái anh nhận được chính là phiên bản anh cho em xem."
Tôi hỏi anh ấy có thể chuyển cho tôi tệp gốc của email lúc đó không. Anh ấy nói được, nhưng tay lại không lấy điện thoại ra ngay. Sự do dự đó khiến tôi ghi nhớ hơn cả câu trả lời.
Buổi tối tôi trở về nơi ở thuê, in ra lịch trình của tháng trước khi xảy ra sự cố. Trong mười chín ngày trống, có ba dấu tích "Vụ án Cao", hai lần hẹn phòng phục chế, và một cuộc gặp riêng tư bị tôi khóa lại, chỉ ghi "Thầy Hà". Ngày tháng ngay sát ba ngày trước khi xảy ra sự cố.
Tôi không nhớ thầy Hà là ai, nhưng mặt sau tấm ảnh cũ kia lại để lại một chữ "Hà" bị cạo đi.
Hôm sau, giám đốc La đến phòng nghiên c/ứu hỏi về tiến độ. Cô ấy nói quảng cáo triển lãm đã in, tường ghi tên người hiến tặng cũng đã hoàn thành, nếu bây giờ tạm dừng, phía bảo tàng sẽ phải chịu chi phí địa điểm và thay đổi vật phẩm mượn trưng bày.
Tôi xoay bảng trắng cho cô ấy xem. "Bây giờ tôi chỉ có thể x/ác nhận một điều: trong hệ thống nghiên c/ứu của riêng tôi, lô tranh này có ít nhất bốn bức được đá/nh dấu là chờ trả lại. Triển lãm trước mắt đừng viết là 'Đã x/ác nhận xong nguồn gốc'."
Cô ấy cau mày. "Hợp đồng của em chính thức hơn những ký hiệu bằng bút chì kia."
"Cho nên tôi mới phải tra xem hợp đồng được hình thành như thế nào."
Cô ấy không đồng ý hủy triển lãm, chỉ cho tôi ba ngày để bổ sung giải thích về nguồn gốc.
Trước khi rời đi, tôi chụp ảnh bảng trắng lưu vào hồ sơ vụ án, niêm phong cùng với tấm ảnh bị cạo tên kia. Đây không phải là bằng chứng mang tính kịch tính, chỉ là để ngăn chặn việc vài ngày sau có ai đó nói "những ký hiệu đó vốn không có ý nghĩa như vậy".
Ba ngày rất ngắn, nhưng đủ để tôi làm một việc mà bản thân trước sự cố hiển nhiên cũng muốn làm--tìm ra cái tên bị cạo đi trong tấm ảnh.