Kết quả kiểm nghiệm sắc tố không cho tôi biết một cái tên, mà chỉ loại trừ trước một cách giải thích thuận tiện.
Tôi yêu cầu M/ộ Chân viết mục đích lấy mẫu vào hồ sơ phục chế, vì lúc nghiên c/ứu nguồn gốc nguy hiểm nhất chính là khi mọi người quá muốn có một câu trả lời đẹp đẽ. Cô ấy chỉ lấy những vụn sắc tố cực nhỏ đã lỏng lẻo, không vì muốn chứng minh tác giả mà làm tổn thương tác phẩm thêm. Sau khi có kết quả, chúng tôi lại tìm một phòng thí nghiệm ngoài bảo tàng để kiểm tra lại lần nữa. Cả hai báo cáo đều chỉ hỗ trợ khoảng thời gian niên đại, không hỗ trợ phán đoán tác giả. Tôi viết dòng chữ "Không thể chứng minh là Hà Nguyệt Đường" đặc biệt lên trên cùng của báo cáo.
Giám đốc La chê tôi quá bảo thủ, nói rằng văn bản triển lãm thông thường không cần viết chi tiết đến thế. Tôi đáp lại cô ấy, sai lầm ban đầu lần này chính là nén sự chắc chắn của các tầng lớp khác nhau thành một câu nói. Cô ấy không thúc giục nữa, nhưng yêu cầu mọi liên lạc bên ngoài bảo tàng phải thông qua sự biết rõ của cô ấy. Tôi đồng ý thông báo cho cô ấy, nhưng không đồng ý để phía bảo tàng thay tôi liên lạc với tác giả gốc khả nghi, vì nếu Hà Nguyệt Đường thực sự từng xảy ra tranh chấp với người đại diện, bà ấy có quyền được biết trước rốt cuộc tôi đang nắm giữ những tài liệu gì.
Kết quả kiểm nghiệm sắc tố không cho tôi biết một cái tên, mà chỉ loại trừ trước một cách giải thích thuận tiện.
Dữ liệu cũ của bảo tàng ước tính bảy bức tranh này từ hơn ba mươi năm trước, trong khi danh mục bàn giao của xưởng vẽ Cao Lập Hành lại ghi sớm hơn. M/ộ Chân lấy được mẫu sắc tố xanh cực nhỏ từ cạnh một bức tranh, kết quả kiểm nghiệm cho thấy một loại sắc tố hỗn hợp trong đó chưa được lưu hành phổ biến vào niên đại ghi trong danh mục. Nó không thể chứng minh tác giả là ai, nhưng cho thấy danh mục "tồn kho xưởng vẽ thời kỳ đầu" đó ít nhất có một phần năm tháng không đáng tin.
Cùng ngày, tôi tìm thấy một chiếc thùng gỗ cũ được gửi đến cùng với các tác phẩm trong kho ngoài bảo tàng. Dưới đáy thùng kẹp hai tờ phiếu vận chuyển chưa được số hóa, mục người gửi không phải xưởng vẽ Cao Lập Hành, mà là một địa chỉ nhà ở đã bị tháo dỡ; người liên hệ chỉ ghi "Hà Nguyệt Đường".
Khi cái tên xuất hiện trọn vẹn lần đầu tiên, lòng bàn tay tôi lạnh toát.
Tôi tra c/ứu dữ liệu triển lãm công cộng. Hà Nguyệt Đường từng tham gia vài cuộc triển lãm chung hơn hai mươi năm trước, tên tác phẩm hoàn toàn không trùng lặp với lô tranh này, sau đó không còn ghi chép công khai nào nữa. Trong các bài bình luận cũ, bà thường được gọi là "tài năng mới của xưởng vẽ Cao Lập Hành", không phải nghệ sĩ đại diện đ/ộc lập. Bài phỏng vấn cuối cùng nhắc đến việc bà "tạm dừng sáng tác", không có ghi chép về việc qu/a đ/ời hay di cư.
Điều này không đồng nghĩa bảy bức tranh đều là của bà. Nhưng trong lịch trình của tôi có ghi "Thầy Hà", ảnh tấm Iót sau để lại chữ "Hà", phiếu vận chuyển lại trực tiếp xuất hiện tên bà.
Tôi sắp xếp dữ liệu thành ba cột: Có thể chứng minh, Chỉ có thể suy đoán, Đang chờ x/ác nhận. Khi Trình Dịch Hành đến, tôi đang viết vào cột thứ ba: "Liệu bà ấy còn sống không".
Anh ấy chuyển cho tôi một email trước sự cố. Người gửi là tôi, người nhận là anh ấy, chủ đề chỉ có "Xem điều khoản trước". Tên tệp đính kèm là Donation_v3.pdf.
"Tệp đính kèm gốc chỉ có cái này thôi sao?" Tôi hỏi.
"Trong hộp thư của anh chỉ có cái này."
Tôi xem mã băm và thời gian tạo tệp, quả thực sớm hơn sự cố. Nội dung hợp đồng ghi rõ tôi sẽ "bàn giao vô điều kiện bảy tác phẩm cho bảo tàng lưu giữ và trưng bày", nhưng ở trang cuối lại có thêm một câu "Các điều kiện còn lại theo tệp đính kèm". Bản quét không có tệp đính kèm.
"Lúc đó anh không hỏi về tệp đính kèm sao?"
Dịch Hành treo áo khoác lên lưng ghế. "Anh hỏi rồi. Em trả lời anh là sẽ tự mình xử lý."
"Có ghi chép không?"
"Tin nhắn đã đổi điện thoại, sao lưu không đầy đủ."
Tôi nhìn chằm chằm anh ấy. "Vậy bây giờ sao anh chắc chắn cuối cùng tôi là hiến tặng vĩnh viễn?"
Anh ấy im lặng vài giây. "Vì sau đó em đưa bản đã ký cho bảo tàng. Sau sự cố giám đốc La hỏi anh, anh cũng tưởng việc đã xong xuôi."
"Tưởng."
Hai chữ này khiến lông mày anh ấy khẽ động. Anh ấy không biện minh, chỉ nói: "Anh biết bây giờ em sẽ không chấp nhận suy đoán."
"Không phải bây giờ. Trước đây tôi cũng không nên chấp nhận."
Đêm đó, tôi gửi yêu cầu tra c/ứu chính thức qua mạng lưới liên lạc cũ của hiệp hội nghệ sĩ công khai, không nhắc đến lỗ hổng trí nhớ, chỉ nói tôi đang đối chiếu nguồn gốc bảy tác phẩm, hỏi cách liên lạc của chính Hà Nguyệt Đường hoặc người đại diện hợp pháp. Hai giờ sau, một giám tuyển đã nghỉ hưu trả lời thư, nói Hà Nguyệt Đường vẫn sống tại địa phương, chỉ là không còn tham gia hoạt động thị trường; nếu bản thân bà ấy đồng ý, có thể chuyển tiếp thư công việc của tôi.
Sáng hôm sau, câu trả lời chỉ có một dòng:
Có thể gặp mặt, nhưng đừng dẫn người của bảo tàng, cũng đừng dẫn người của xưởng vẽ Cao Lập Hành.
Tôi nhìn rất lâu. Cao Lập Hành đã qu/a đ/ời mười năm, Hà Nguyệt Đường vẫn đặt "người của xưởng vẽ" vào danh sách từ chối.
Lô tranh này lần đầu tiên không còn chỉ là vấn đề tôi có nhớ hay không.
Tôi đồng thời quét hai tờ phiếu vận chuyển gửi đi đối chiếu niên đại giấy và con dấu, chỉ cầu mong x/ác nhận chúng không phải là đồ làm giả gần đây. Nghiên c/ứu nguồn gốc sợ nhất là một manh mối đẹp đẽ quá nhanh chóng trở thành trung tâm, tôi thà tốn thêm một ngày, chứng minh trước rằng nó ít nhất thực sự đến từ niên đại đó.
Nếu tác giả gốc thực sự vẫn tồn tại, thì việc chữ ký của tôi có thể hiến tặng hay không, phải xếp ở phía sau nữa.