Người duy nhất trên đảo còn lưu giữ nhật ký hàng hải bằng giấy từ ba năm trước là Trần Dã, mười bảy tuổi.
Cha cậu trước đây quản lý trạm c/ứu hộ, sau khi chuyển đến đảo chính hai năm trước, cái tủ trực ban cũ vẫn chưa được dọn dẹp. Trần Dã không chịu sơ tán, nói rằng phải đợi cha về tự tay quyết định những món đồ nào có thể bỏ đi. Vòng trước cậu còn nhớ đoạn đê phía Đông từng bị g/ãy, vòng này lại chỉ nhớ cha không thích người khác đụng vào tủ của mình.
Tôi không nhồi nhét toàn bộ sự việc cho cậu ấy, chỉ hỏi liệu có thể xem nhật ký của tuần xảy ra vụ đắm tàu ở rạn san hô phía Bắc ba năm trước không.
"Chị không phải là người trong cuộc sao?" Cậu ấy hỏi.
"Vì vậy mới càng cần phải xem."
Cậu ấy suy nghĩ một lát rồi mở khóa.
Phần lớn giấy tờ trong tủ đều đã ố vàng do hơi ẩm. Chỉ có một cuốn sổ mỏng ở tầng dưới cùng là có bìa đen, sờ vào cứng hơn những tờ giấy khác. Trầm Chu vừa nhìn đã nói: "Đã ngâm nước giếng."
Chúng tôi mang nhật ký ra cửa sổ. Trên trang ghi ngày xảy ra vụ đắm tàu ba năm trước có hai loại chữ viết. Một loại là ghi chép trực ban của cha Trần Dã, loại còn lại là những câu ngắn của Trầm Chu.
14:12, lật thuyền ở rạn san hô phía Bắc.
14:28, tìm ki/ếm dưới nước.
14:46, mất liên lạc với mục tiêu.
15:03, mở giếng.
Ba trang sau đó đã bị x/é mất.
Tôi nhìn chằm chằm vào hai chữ "mở giếng", trong tai chỉ còn tiếng gió.
"Tại sao c/ứu hộ lại phải mở giếng?" Tôi hỏi.
Trầm Chu không trả lời. Anh đưa tay chạm vào xươ/ng mày như đang tìm ki/ếm điều gì đó.
"Anh không biết, hay là không muốn nói?"
"Tôi nhớ hôm đó dòng nước đột ngột dừng lại." Anh chậm rãi nói, "Dòng chảy ngược vốn đang kéo cô ra phía rạn san hô ngoài bỗng đổi hướng, tôi mới tìm thấy cô. Nhưng trước khi mở giếng đã xảy ra chuyện gì... có một khoảng trống."
Cơn gi/ận trong lòng tôi đột nhiên đổi hướng.
Anh không chỉ đang giấu giếm. Anh cũng đang đá/nh mất.
Trần Dã tìm thấy ba góc giấy bị ép phẳng từ phía sau tủ, kích thước vừa khớp với những trang bị x/é. Sau khi ghép lại, dòng cuối cùng viết: Bắc tỉnh chỉ triều, đại ký vi thường (Giếng Bắc dừng thủy triều, thay ký làm đền bù).
"Đại ký?" Trần Dã đọc thành tiếng, "Có nghĩa là gì?"
Tôi không có câu trả lời.
Chúng tôi lại lật ra một tấm bản đồ thủy triều cũ. Bên cạnh giếng đ/á ngầm phía Bắc có vẽ một ký hiệu vòng tròn kép, bên cạnh không có chữ, chỉ có bảy vạch ngắn. Tôi đối chiếu nó với số lượng điểm đen trên giấy nước đen, con số trùng khớp.
Vòng thứ bảy.
Nếu bảy là một loại giới hạn nào đó, số lần còn lại của chúng tôi có lẽ ít hơn chúng tôi tưởng.
Buổi trưa, Diệp Thư Nghi đến tìm Trần Dã, nói phòng khám cần kiểm kê th/uốc men. Cô ấy sững người khi nhìn thấy tôi.
"Khi nào chị về đảo vậy?"
Nhật ký trong tay tôi suýt rơi xuống đất.
Cô ấy quên mất tôi đã ở đây từ hôm qua và hôm kia.
Trầm Chu cũng cứng đờ người.
Tôi bước đến trước mặt cô ấy, giới thiệu lại bản thân. Cô ấy nhanh chóng cười tươi, nói tất nhiên biết tôi là cháu ngoại của Lâm Quế Chi, chỉ là "nhất thời chưa kịp nhớ ra". Nhưng khi tôi hỏi cô ấy hôm qua có đo huyết áp cho bà nội không, cô ấy hoàn toàn không có ấn tượng gì.
Lần này thứ bị lấy đi không chỉ là lý do sơ tán, mà là những người liên quan đến công việc sơ tán.
Tôi ghi lại tình trạng mới của Diệp Thư Nghi. Trần Dã nhìn chúng tôi, không cười nổi nữa.
"Người tiếp theo sẽ là ai?"
"Không biết." Tôi nói, "Vì vậy bây giờ cậu phải tự quyết định xem có lên con tàu hôm nay hay không."
Cậu ấy cắn môi, "Nếu tôi đi, những cuốn nhật ký này thì sao?"
"Tôi sẽ mang theo bản sao. Bản gốc do cậu quyết định."
Cuối cùng cậu ấy chọn bỏ cuốn nhật ký nước đen vào túi chống nước đưa cho tôi, những vật dụng khác trong nhà không đụng đến. Hai giờ chiều, cậu ấy lên chuyến tàu sơ tán đầu tiên.
Đây là người đầu tiên thực sự rời khỏi đảo sau khi vòng lặp bắt đầu.
Tôi đứng ở cầu cảng nhìn con tàu vượt qua luồng nước phía Nam, cho đến khi bóng tàu chỉ còn là một chấm nhỏ. Luồng hàng hải an toàn hôm nay chỉ còn rộng bốn mươi mốt mét, hẹp thêm hai vòng nữa, tàu lớn sẽ không qua được.
Trầm Chu đứng cạnh tôi, đột nhiên nói: "Tôi nhớ ra một chút."
Tôi không hối thúc.
"Ba năm trước không phải tôi mở giếng một mình." Anh nói, "Cô cũng ở đó."
Tôi quay đầu lại.
"Khi tôi tìm thấy cô, cô vẫn còn tỉnh táo. Cô bảo tôi c/ắt sợi dây phong ấn miệng giếng."
Tôi hoàn toàn không có ký ức đó.
"Anh chắc chứ?"
"Vừa nãy nhìn thấy ký hiệu vòng tròn kép đó, tôi mới nhớ ra."
Tôi đút tay vào túi áo khoác, không để bản thân truy hỏi thêm ngay lập tức. Ký ức trên hòn đảo này đã không còn là bằng chứng đáng tin cậy nữa.
"Viết xuống đi." Tôi đưa giấy nước đen cho anh.
Trầm Chu nhận lấy bút, không biện minh.
Anh viết từng chữ một: Tễ Hòa từng yêu cầu mở giếng. Ký ức này có thể không đầy đủ, chờ đối chiếu với các bằng chứng khác.
Trước khi Trần Dã đưa nhật ký cho tôi, cậu ấy đặc biệt viết tên mình lên miệng túi chống nước. Tôi bảo cậu ấy viết thêm một câu "Bản gốc do tôi bàn giao cho Lâm Tễ Hòa tạm giữ", không phải vì tôi không tin tưởng cậu ấy, mà vì vòng lặp đang khiến lý do của mỗi người trở nên mong manh. Sau khi cậu ấy đi, Trầm Chu nhìn dòng chữ đó nói: "Em đến mượn một cuốn sổ cũ cũng phải để lại biên bản bàn giao." Tôi trả lời anh: "Vì ngày mai có thể chỉ còn tờ giấy này biết là cậu ấy từng hứa."
Tôi nhìn dòng chữ đó, lần đầu tiên cảm thấy chúng tôi thực sự đứng cùng một chiến tuyến.