Sáng vòng thứ chín, luồng hàng hải phía Nam chỉ còn lại mười chín mét.
Nhân viên trực trạm c/ứu hộ vốn còn nhớ lịch tàu sơ tán, nhưng hôm nay tỉnh dậy lại hỏi tôi tại sao cảng lại trống trải như vậy. Tôi không để bất kỳ ai ở lại đảo nữa, tám giờ sáng đã đưa cả hai người họ rời đi.
Cuối cùng chỉ còn lại tôi và Trầm Chu.
Hòn đảo đột nhiên tĩnh lặng đến đ/áng s/ợ.
Không còn ai cần chúng tôi thuyết phục, cũng không còn ai có thể làm chứng cho chúng tôi. Giấy nước đen trở thành hồ sơ liên tục duy nhất có thể lưu giữ qua các vòng lặp. Điều này khiến tôi hiểu rõ hơn một chuyện: Nếu chúng tôi cũng bắt đầu quên lãng, thì mọi câu "tôi nhớ" đều không đủ.
Tôi chia bản đồ thủy triều đã hoàn thiện thành ba phần. Phần thứ nhất ghi mực nước đo thực tế, phần thứ hai ghi lượng thu hẹp của mỗi vòng, phần thứ ba chỉ đá/nh dấu đường an toàn tối thiểu cho xuồng nhỏ. Cả ba phần đều được ngâm qua nước giếng đ/á ngầm đen, sau đó lần lượt nhét vào hộp đo đạc, tủ chống ch/áy của trạm c/ứu hộ và phao nổi ở cầu cảng.
Trầm Chu hỏi: "Sợ chúng ta quên cả chỗ để giấy sao?"
"Sợ chỉ còn lại một bản duy nhất."
Anh không cười nhạo tôi làm chuyện thừa thãi.
Chúng tôi đối chiếu dữ liệu của chín vòng, phát hiện luồng hàng hải không thu hẹp đồng đều. Mỗi lần có người ở lại gần giếng đ/á ngầm phía Bắc càng lâu, vòng sau luồng nước phía Nam lại thu hẹp càng nhiều. Hai lần rõ rệt nhất chính là vòng thứ ba và vòng thứ tám, khi tôi và Trầm Chu đến gần miệng giếng.
Cái giếng không chỉ đơn thuần làm thời gian thiết lập lại, nó đang dùng luồng nước ngoài đảo để bù đắp cho dòng chảy ngược gây ra bởi việc miệng giếng bị mở.
"Nếu phong ấn giếng, luồng hàng hải phía Nam có lẽ sẽ không khôi phục được." Tôi nói.
"Cũng có thể sẽ đổi sang một luồng khác."
"Vì vậy không thể đợi phong ấn xong mới sơ tán."
Điều này có nghĩa là trước khi thủy triều lên cao, chúng tôi phải đưa hai người cuối cùng - chính là chúng tôi - ra khỏi phạm vi có thể quay lại, hoặc ít nhất phải đảm bảo có người hoàn thành việc phong ấn giếng.
Vấn đề là phương pháp phong ấn vẫn chưa biết.
Chúng tôi quay lại cuốn nhật ký nước đen Trần Dã để lại, tìm thấy một dòng chữ mà tôi luôn bỏ sót: Dừng thủy triều cần ba nút thắt, một người giữ dây, một người khóa chốt.
"Ba nút thắt." Trầm Chu lấy ra đoạn dây lặn vẫn còn giữ ký hiệu vượt vòng lặp.
Tôi chạm vào ba nút thắt ngắn trên dây. Hóa ra "quay đầu" không phải ám hiệu c/ứu hộ, mà là một phần của quy trình phong ấn giếng.
Trang cuối của cuốn nhật ký cũ có một bản vẽ đồ thị đường dây rất mờ. Cần một người giữ lực căng bên ngoài giếng, người kia lặn vào vách giếng để lần lượt móc vào ba vòng khóa. Khi chốt cuối cùng được hoàn thành, nước giếng sẽ rút ngược.
"Tôi xuống." Trầm Chu nói.
"Lý do."
Anh sững người.
Tôi nhìn anh. "Đừng đưa ra kết luận trực tiếp nữa."
Anh hít một hơi. "Tôi là thợ lặn c/ứu hộ, khả năng nín thở và tác nghiệp dưới nước ổn định hơn em. Tôi cũng đã tiếp cận giếng nhiều lần, cái giá phải trả chủ yếu rơi vào ký ức của tôi. Em ở bên ngoài giữ dây sẽ kiểm soát mực nước tốt hơn."
Đây là lý do, không phải quyết định thay tôi.
Tôi gật đầu. "Tôi đồng ý. Nhưng không phải bây giờ."
Chúng tôi vẫn thiếu một điều kiện: Sau khi phong ấn giếng, luồng nước sẽ thay đổi thế nào. Nếu phong ấn xong mới đi, có thể sẽ tự giam mình trong đường cùng; nếu đi trước, sẽ không còn ai phong ấn giếng.
Tôi đề xuất thực hiện một cuộc thử nghiệm "khóa nửa chừng" trong giai đoạn thủy triều rút của vòng sau, chỉ móc vòng giếng đầu tiên để quan sát đường cong mực nước chứ không hoàn tất phong ấn. Trầm Chu nhíu mày nhưng không phủ quyết, chỉ hỏi về rủi ro.
"Có thể kích hoạt cái giá phải trả về ký ức."
"Đúng."
"Cũng có thể khiến luồng hàng hải thu hẹp sớm hơn."
"Đúng."
Anh nhìn tôi một lúc. "Vậy thì hãy viết rõ điều kiện rút lui."
Chúng tôi liệt kê trên giấy nước đen: Nước giếng dâng quá ba mươi centimet, thủy triều ngoài đảo đảo ngược quá hai phút, Trầm Chu xuất hiện triệu chứng mất phương hướng, bất kỳ điều nào xảy ra đều phải sơ tán ngay lập tức.
Ba giờ rưỡi chiều, tôi giữ dây ở vòng ngoài, anh lặn xuống giếng móc chốt đầu tiên.
Sợi dây lập tức căng cứng.
Thước đo thủy triều dừng lại.
Suốt bốn mươi giây, mặt biển như bị ai đó đ/è ch/ặt. Sau đó từ phía Nam truyền đến tiếng ầm trầm đục, luồng nước phía xa không hề thu hẹp mà ngược lại, còn lệch về phía Tây tạo thành một rãnh mới.
Tôi lập tức vẽ lại hướng đi.
"Rút!" Tôi hét lên.
Trầm Chu nổi lên, nhanh hơn dự kiến. Anh bám lấy mép đ/á, sắc mặt tái nhợt.
"Anh đang ở đâu?" Tôi hỏi.
"Giếng đ/á ngầm phía Bắc."
"Tôi là ai?"
Anh nhìn tôi, im lặng trong hai giây.
Tim tôi như rơi xuống giếng.
Rồi anh nói: "Lâm Tễ Hòa. Chuyên gia đo đạc thủy triều."
Không phải "Tễ Hòa", cũng không phải "bạn gái cũ của tôi".
Chỉ là tên tôi và công việc của tôi.
Anh lại mất đi một đoạn ký ức nữa.
Tôi giữ lấy sợi dây, không chạm vào anh. "Còn nhớ tại sao chúng ta chia tay không?"
Anh nghĩ rất lâu rồi lắc đầu.
Tôi nhắm mắt lại.
Trên đường về trạm c/ứu hộ, vài lần anh định đi về phía sát biển như thói quen trước kia, rồi lại dừng lại sau mỗi bước chân, dường như không biết đó có phải là thói quen của mình hay không. Tôi không nhắc nhở. Khi sắp đến cầu cảng, anh hỏi: "Trước đây có phải tôi luôn đi phía ngoài không?" Tôi nói: "Phải." Anh lại hỏi: "Em có cần tôi làm vậy bây giờ không?" Tôi nhìn con đường đ/á bằng phẳng dưới chân, lắc đầu. "Hôm nay không cần."
Đoạn chuyện từng khiến tôi đ/au đớn suốt ba năm, giờ chỉ còn mình tôi nhớ.
Mà chúng tôi vẫn chưa phong ấn xong cái giếng.