Vào buổi chiều ngày giao ghế, Chu Kỳ An không đến.
Đúng bốn giờ, tôi nhận được tin nhắn từ Trình Việt: “Dì Lâm không khỏe từ sáng, Kỳ An đang đưa dì ấy vào viện. Ghế hôm nay có lẽ không lấy được, lát nữa tôi xem có thể lấy hộ không.”
Tôi nhìn chằm chằm vào điện thoại, lồng ngựk như bị những thói quen cũ chạm vào.
Trước đây, chỉ cần hai chữ “b/ệnh viện” xuất hiện, tôi sẽ ngay lập tức gác lại công việc. B/ệnh viện nào, khoa gì, có cần đưa cơm không, ai ở lại trông đêm, đầu óc tôi sẽ tự động liệt kê ra một bảng biểu.
Lần này cũng vậy.
Tôi thậm chí đã mở ứng dụng đặt xe lên.
Nhưng ngón tay dừng lại ở dòng địa chỉ, tôi mới tắt màn hình đi.
Chu Kỳ An không tìm tôi.
Không một cuộc gọi “Em có rảnh không”, cũng không một câu “Anh một mình không xoay xở nổi”.
Tôi phủ tấm vải lên chiếc ghế lần nữa, trả lời Trình Việt: “Không cần lấy hộ, đổi hẹn là được. Hy vọng dì Lâm ổn định.”
Sáu giờ tối, Chu Kỳ An mới nhắn tin.
“Hôm nay không thể lấy ghế, xin lỗi em. Mẹ nghi nhiễm trùng, bác sĩ giữ lại theo dõi. Anh đã báo cho trung tâm chăm sóc và em gái, tối nay có người thay ca rồi. Em không cần qua đây. Đợi tình hình chắc chắn, anh sẽ hẹn lại thời gian lấy ghế.”
Tôi đọc đi đọc lại ba lần.
Thứ tôi quan tâm không phải là tin nhắn được viết khéo léo đến mức nào. Tôi quá quen với một phiên bản khác. Ở phiên bản đó, anh sẽ nói “Mẹ anh vào viện rồi”, dừng lại một chút để tôi tự hỏi “Có cần em giúp không?”, rồi cả hai chúng tôi đều coi sự tự nguyện đó là điều hiển nhiên không áp lực.
Tôi đáp: “Đã rõ. Chúc dì sớm ổn định.”
Không hỏi thêm gì.
Chín giờ tối, tôi vẫn không sao ngồi yên được. Không phải vì muốn đến b/ệnh viện, mà là vì lo lắng. Hai việc này trước đây chưa từng tách rời trong tôi.
Tôi pha trà, ép mình phải phân loại xong đống phụ kiện của một chiếc tủ cũ. Mười giờ rưỡi, Chu Kỳ An lại nhắn thêm một câu: “Không phải nhiễm trùng nặng, ngày mai nếu hạ sốt có thể về lại chỗ ở. Cảm ơn em đã quan tâm.”
Tôi trả lời một chữ “Được”.
Chỉ vậy thôi.
Ngày hôm sau, anh đến lấy ghế.
Gương mặt rất mệt mỏi, cổ tay áo sơ mi vẫn còn nhăn nhúm. Tôi suýt chút nữa đã hỏi anh đêm qua ngủ được mấy tiếng, nhưng lại đổi thành câu: “Hôm nay có sức để khiêng không? Ghế không được khiêng nghiêng một mình đâu.”
“Trình Việt đang đợi dưới lầu.”
“Được.”
Anh nhìn tôi. “Đêm qua có phải em đã định qua đây không?”
Tôi không phủ nhận. “Có định qua.”
“Cảm ơn em đã không đến.”
Tôi ngẩn người.
“Không phải anh không muốn gặp em,” anh nói, “mà là anh cần chứng minh cho bản thân thấy, khi gia đình xảy ra chuyện, anh có thể xử lý theo sự sắp xếp hiện tại, không gọi người tiện nhất quay lại.”
Tôi không nói “Anh chứng minh được rồi”.
Một đêm không thể chứng minh cho cả cuộc đời.
Nhưng khi mọi thứ rối ren nhất, anh đã không quay lại thói quen cũ. Điều này còn có trọng lượng hơn bất kỳ thỏa thuận nào khi bình yên.
Sau khi Trình Việt lên lầu, tôi để cả hai cùng khiêng. Chu Kỳ An vẫn ký vào mục rủi ro vận chuyển theo quy định của xưởng, không vì quen biết mà bỏ qua.
Khi chiếc ghế được khiêng ra cửa, tôi bất ngờ gọi anh lại.
“Đợi chút.”
Tôi bước tới, lấy mảnh giấy túi th/uốc cũ rơi ra từ lỗ mộng, bỏ vào túi nhựa nhỏ rồi treo vào tập tài liệu dưới đáy ghế.
“Cái này trả lại cho dì.”
Chu Kỳ An cúi đầu nhìn nét chữ cũ của tôi. “Em chắc chứ?”
“Chắc. Nó cùng ghế quay về.”
Tôi không đi theo chiếc ghế.
Khi cửa xe tải đóng lại, tôi đứng trước cửa xưởng, nhìn chiếc ghế từng đưa tôi vào một gia đình, rồi nhiều năm sau lại đưa mối qu/an h/ệ đó quay trở về, rời đi.
Lần này, nơi nó quay về không cần tôi quay về cùng.
Buổi tối, tôi chủ động nhắn tin cho Chu Kỳ An: “Sau khi dì Lâm về lại chỗ ở, nếu dì ấy muốn, có thể nhờ dì ấy chụp một tấm ảnh ghế đã đặt xuống sàn gửi cho tôi. Chỉ xem ghế thôi.”
Anh đáp: “Được.”
Vài phút sau lại thêm một câu: “Bữa tối cuối tuần vẫn tính chứ?”
Tôi nhìn câu đó, khẽ mỉm cười.
“Tính.”
Tôi không vì anh vượt qua thử thách khủng hoảng mà dỡ bỏ hết mọi ranh giới.
Ngày hôm sau khi anh đến, tôi cũng nhìn thấy một chi tiết khác: anh không vì thức đêm mà cố gắng tự khiêng ghế một mình. Trước khi Trình Việt lên lầu, anh đã cố định chăn chống va đ/ập trên xe tải, cả hai cùng khiêng theo phiếu vận chuyển của tôi. Kỳ An trước đây rất dễ coi “Để anh làm là được” là trách nhiệm, cuối cùng mệt đến mức mọi người đều phải bù vị trí. Bây giờ anh chịu để người khác làm phần việc mà họ có thể, điều này khiến tôi tin tưởng hơn bất kỳ câu “Anh đã thay đổi rồi” nào.
Tôi tắt ứng dụng đặt xe, nhưng vẫn để điện thoại bên cạnh. Đêm đó mỗi lần điện thoại rung, tôi đều khựng lại một chút rồi mới x/ác nhận xem có phải tin nhắn công việc không. Tôi không vì thế mà trách móc bản thân. Thói quen được tôi luyện qua nhiều năm, có thể dừng lại một lần trước khi ngón tay nhấn vào địa chỉ, đã là khác với trước đây rồi.
Nhưng tôi sẵn lòng thừa nhận, anh của hôm nay đã làm được một việc mà trước đây không thể.