Tấm gương dẫn sáng đầu tiên nặng hơn tôi tưởng.
Tôi và Hoài Chu mất hai tiếng đồng hồ để làm sạch lớp gỉ muối trong vòng cố định, sau đó dùng dây đai đỡ lấy mặt sau gương. Khi chiếc chốt khóa cuối cùng được tháo ra, cả tòa tháp phát ra tiếng kim loại rung lên trầm đục, tựa như có ai đó đang gõ vào một chiếc bát ở nơi rất xa.
Ngay khoảnh khắc mặt gương rời khỏi bệ, đường hải trình trắng nhạt vốn đã sáng suốt mười một năm ở phía Bắc ngoài cảng liền vụt tắt.
Ánh sáng trên hải đăng vẫn còn, nhưng vệt trắng dẫn đường vốn sẽ nổi lên trong màn sương trên mặt biển thì biến mất hoàn toàn. Nhân viên đo đạc ngoài đê chắn sóng báo cáo bằng tín hiệu cờ: Tuyến rạn đ/á phía Bắc không còn định vị được nữa.
Tôi chưa kịp thấy sợ hãi thì Hoài Chu đột ngột ngẩng đầu lên.
“Nhựa thông.”
“Cái gì cơ?”
Anh chộp lấy hũ sáp trám khe tôi để cạnh hộp dụng cụ, đưa lên mũi ngửi, hốc mắt thậm chí hơi đỏ lên trong giây lát.
“Anh ngửi thấy rồi.”
Tôi đưa lọ dung môi cho anh. Anh lập tức nhăn mũi, lùi lại nửa bước.
Khứu giác đã trở lại.
Nhưng tuyến rạn phía Bắc cũng thực sự biến mất rồi.
Chúng tôi đặt tấm gương đầu tiên nằm phẳng trong khung gỗ, không đụng đến tấm thứ hai nữa. Tin tức truyền về cảng nhanh hơn cả lúc chúng tôi xuống tháp. Ngụy Trường Lĩnh dẫn theo hai vị thuyền trưởng vội vã đến nơi. Ông ta thậm chí không hỏi về khứu giác của Hoài Chu, vừa mở miệng đã hỏi tôi có biết tuyến rạn phía Bắc mỗi ngày có bao nhiêu tàu cá đi qua hay không.
“Tôi biết.” Tôi đáp.
“Vậy mà cô còn dám tháo?”
“Vì nó lấy đi giác quan của con người, và vì tài liệu cảng vụ chưa bao giờ viết rằng gương có thể tháo rời.”
Một trong những lão thuyền trưởng đ/ập bàn. “Trả lại được thì đã sao? Tuyến rạn phía Bắc không quay lại được!”
Câu nói đó không hề sai.
Tôi mở cuốn sổ bảo trì của Phương Tĩnh Lan ra, để họ nhìn thấy những vòng tròn và đường kẻ đã bị gạch bỏ. Khi Ngụy Trường Lĩnh nhìn thấy dòng cuối cùng, sắc mặt ông ta thay đổi, nhưng không hề tỏ ra ngạc nhiên như thể lần đầu mới biết.
Tôi ghi nhớ sự khựng lại đó.
“Ông từng thấy cuốn này rồi à?” Tôi hỏi.
“Tài liệu cũ có rất nhiều người từng xem.”
“Vậy ông biết tháo gương sẽ trả lại giác quan?”
Ông ta tránh né câu hỏi của tôi, chỉ nói hội đồng sẽ tạm thời phong tỏa tuyến rạn phía Bắc, yêu cầu tôi không được tự ý tháo gương nữa.
Sau khi họ đi, Hoài Chu lau sạch vòng cố định của gương tầng hai, nhưng không ra tay.
“Ngụy Trường Lĩnh biết nhiều hơn những gì ông ta nói.” Anh nói.
“Anh cũng nhận ra rồi.”
“Anh chú ý hơn đến việc ông ta không hề hỏi về vị giác của anh.”
Tim tôi thắt lại. Vừa rồi ánh mắt của tất cả mọi người đều đổ dồn vào tuyến hải trình đã mất, cơ thể của Hoài Chu dường như chỉ là một linh kiện đã được kiểm chứng.
Trong bữa tối, cuối cùng anh cũng ngửi được mùi gừng trong canh, nhưng vẫn không nếm được vị mặn nhạt. Khi tôi gắp thức ăn cho anh, tôi khựng lại rồi thu đũa về.
“Anh tự chọn đi.”
Anh nhìn tôi, nụ cười rất nhạt. “Có tiến bộ rồi.”
Tôi biết điều anh đang nói không chỉ là món ăn.
Việc tháo tấm gương thứ nhất cho chúng tôi một đáp án chắc chắn: Giác quan có thể được hoàn trả, cái giá phải trả là hải trình biến mất vĩnh viễn. Nó không xóa sổ lời nguyền, mà chỉ đẩy một tờ hóa đơn từ trên người một cá nhân sang cả cảng biển.
Đêm đó, chuông báo phong tỏa tuyến rạn phía Bắc vang lên ba hồi. Đây là lần đầu tiên khu cảng thực sự nghe thấy cái giá phải trả của tòa hải đăng này.
Ngày đầu tiên tuyến rạn phía Bắc bị đóng, một lão chủ tàu cá tên là chú La trực tiếp đến dưới tháp tìm tôi. Ông không ch/ửi bới, chỉ trải một tấm hải đồ vẽ tay lên bậc đ/á, chỉ ra điểm chuyển hướng mà con tàu của ông đã dùng suốt hai mươi bảy năm. Điểm chuyển hướng đó nằm ngay trên vệt trắng đã biến mất.
“Vòng ra ngoài, tốn thêm bốn mươi phút.” Ông nói, “Tiền dầu vào mùa đông không phải là con số nhỏ.”
Tôi nói tôi biết.
“Cô không biết sổ sách của tôi đâu.” Ông gấp tấm bản đồ lại, “Giống như tôi cũng không biết mũi của thằng nhóc kia đáng giá bao nhiêu.”
Câu nói đó khiến tôi im lặng suốt quãng đường lên lầu. Nó không ép tôi phải lắp gương lại, nhưng nhắc nhở tôi rằng: Chuyển chi phí đi khỏi Hoài Chu không có nghĩa là chi phí đó biến mất. Nếu chúng tôi thực sự muốn tháo cả bảy tấm gương, thì không thể viết tổn thất của những người khác trong cảng thành một câu “mọi người cùng gánh vác” là xong.
Chiều hôm đó, tôi đi cùng nhân viên đo đạc cảng vụ để đá/nh dấu lại tuyến đường vòng phía ngoài rạn đ/á. Không còn luồng sáng cũ, hai chiếc phao tiêu vốn quen thuộc nay như đột nhiên mất kết nối, con tàu buộc phải đi vòng qua một đoạn nước sâu mới tránh được rạn đ/á di động. Tôi đứng ở mũi xuồng ghi lại từng lần chuyển hướng, chóng mặt đến mức dạ dày cồn cào, và cũng lần đầu tiên dùng chính cơ thể mình để biết rằng “một đường kẻ biến mất” không đơn thuần là xóa đi một nét vẽ trên bản đồ.
Khi trở về tháp, chú La đang chép góc độ tạm thời mới cho hai con tàu khác. Ông không nhìn tôi nữa. Tôi cũng không mong đợi ông vì khứu giác của Hoài Chu trở lại mà tha thứ cho quyết định này.
Tuyến đường mới tạm thời cuối cùng chỉ mở cho các tàu nhỏ có mớn nước thấp, tàu lớn đều phải neo đậu ở ngoài cảng. Cảng vụ vì thế mà tăng thêm hai chuyến trung chuyển, thủy thủ cũng phải thay đổi giờ giấc sinh hoạt. Những thay đổi này rất phiền phức, nhưng lại cho tôi thấy một điều quan trọng: Sau khi mất đi hải trình, cảng không chỉ có hai lựa chọn là “khôi phục gương cũ” và “ngừng hoạt động hoàn toàn”, con người có thể dần dần tìm ra những cách thức mới.