Việc tháo gương chậm hơn tôi dự tính.
Trình tự mà Phương Tĩnh Lan để lại tuy đúng, nhưng lớp gỉ muối của bốn mươi năm không hề chịu hợp tác. Tấm thứ nhất, thứ ba, thứ hai còn khá suôn sẻ, đến tấm thứ năm thì vòng cố định bị kẹt cứng, tôi phải mài trong tiếng mưa gần một tiếng đồng hồ mới nới lỏng được nó.
Mỗi khi tháo xuống một tấm, con đường cũ trên biển lại bớt đi một lối.
Đến tấm thứ sáu, bên ngoài cảng Hôi Loan chỉ còn lại ánh vàng từ tàu đèn tạm thời. Cảnh tượng đó khiến lòng tôi trống rỗng, như thể chính tay mình phá bỏ một tấm bản đồ mà ai cũng quen thuộc.
Hoài Chu vẫn luôn đợi ở đài quan sát trung tâm.
Sau khi tấm gương thứ hai được tháo xuống, vị giác của anh bắt đầu trở lại. Anh nếm được một chút mặn, tiếp đó là vị trà nhạt nhẽo đến đáng thương trong chiếc cốc giữ nhiệt kim loại. Anh cười một cái, nói rằng ngụm đầu tiên của thứ có vị lại khó uống đến vậy.
Sau khi tấm gương thứ ba được tháo xuống, anh vẫn chỉ có thể phân biệt mơ hồ cảm giác nóng lạnh. Tôi biết “sự khiếm khuyết” ghi trong danh mục đã rơi xuống người anh, sẽ không vì chúng tôi đưa ra lựa chọn đúng đắn mà biến mất.
Khi tấm gương cuối cùng rời khỏi bệ, cả tòa tháp đột nhiên yên tĩnh.
Tiếng gió mưa vẫn còn, nhưng lực căng chung mà cơ cấu máy móc duy trì suốt nhiều năm cuối cùng đã buông lơi, khiến cả tòa tháp hiện ra một vẻ tĩnh lặng xa lạ. Vòng đồng phía sau gương từ từ hạ xuống, đèn chính trên đỉnh tháp mất đi mặt hội tụ, chỉ còn lại một khối sáng trắng thấp và tản mát.
Tôi vịn lan can thở dốc.
Hoài Chu từ cầu thang đi lên, dừng lại sau lưng tôi hai bước.
“Kết thúc rồi sao?”
“Tháp cũ kết thúc rồi.”
Anh bước đến cạnh tôi. Mưa đã nhỏ hơn nhiều, nhưng mặt biển lại tối tăm đến mức xa lạ.
“Anh nghe thấy em rồi.” Anh nói.
Tôi ngẩn người.
“Gì cơ?”
“Vừa nãy trong tai anh cứ có tiếng ù ù, giờ thì không còn nữa.”
Lúc này tôi mới hiểu ra, dù sau khi tầng ba thắp sáng ngắn hạn anh chỉ mất đi cảm giác nóng lạnh, nhưng sự liên động của gương cũ vẫn để lại những nhiễu lo/ạn nhỏ trong cơ thể anh. Khi nêm tổng bị rút, bảy tấm gương rời tháp, luồng nhiễu lo/ạn đó cuối cùng cũng tan biến theo.
Tôi không vội vàng kiểm tra xem anh còn lại bao nhiêu phần.
Chúng tôi ngồi trên đài quan sát đỉnh tháp, đợi nhân viên cảng vụ niêm phong từng tấm gương vào thùng. Hoài Chu đưa tay vào màn mưa, vài giây sau mới nói: “Lạnh.”
“Lạnh lắm sao?”
“Có lẽ chỉ được một nửa thôi.”
Tôi kéo tay anh vào trong áo khoác.
Đêm đầu tiên ngừng hoạt động, không có bất kỳ con tàu lớn nào ra vào cảng. Vài khu chợ đêm dọn hàng sớm, xưởng sửa tàu cũng tắt hai hàng đèn. Cái giá phải trả không dừng lại chỉ vì chúng tôi rời khỏi tòa tháp.
Nhưng sáng hôm sau, khi tôi lắp ba cột mốc phản xạ độ sáng thấp lên giá thử nghiệm ngoài rạn đ/á, tôi không gọi Hoài Chu lại gần bất kỳ tấm gương chính nào nữa.
Anh đứng trên tàu đo đạc, chỉ cầm thước đo góc thông thường để báo cáo vị trí.
“Điểm phản xạ số một lệch đông hai độ.”
“Đã rõ.”
“Số hai ổn định.”
Tôi điều chỉnh giá đỡ, khi ngước lên, thấy anh vẫy tay với tôi từ phía xa.
Ánh sáng của tháp mới rất yếu, thậm chí không thể gọi là đẹp. Nó không giống đèn cũ x/ẻ đôi màn sương biển, mà chỉ để ba đốm sáng nhỏ đứng vững dần trên mặt biển xám xịt.
Tôi chợt rất thích sự không hoàn hảo đó.
Bởi vì nó không cần ai phải đứng trong luồng sáng mà đá/nh mất chính mình, mới chứng minh được cảng vụ xứng đáng được chiếu sáng.
Khi tấm gương thứ năm nới lỏng, đã xảy ra một tình huống nguy hiểm. Giá đỡ phía dưới đột nhiên trượt nửa nấc, cả tấm gương nghiêng ra ngoài, tôi lập tức đạp phanh cơ khí, siết ch/ặt dây đai. Hoài Chu ở dưới đài quan sát không lao lên, chỉ làm theo quy trình an toàn đã định sẵn là đóng dây nâng, để tôi phân chia lại lực chịu tải sang hai bên trước.
Trước đây tôi sẽ hiểu sự dừng lại của anh là không đến c/ứu tôi. Giờ đây tôi biết, đó chính là sự tin tưởng. Anh tin rằng tôi biết phải làm gì tại vị trí công việc của mình, và cũng tin rằng giới hạn an toàn đã định sẵn đáng tin cậy hơn bản năng khi khẩn cấp.
Khi tấm gương cuối cùng rơi vững chãi vào khung gỗ, tôi giơ tay làm dấu hiệu “không sao” với anh qua lan can. Anh làm lại dấu hiệu tương tự. Chúng tôi không nói lời yêu, nhưng lại đứng cạnh nhau một cách rõ ràng hơn bao giờ hết.
Tấm gương thứ bảy nhẹ nhất, nhưng khó lấy nhất. Nó nằm ở đỉnh tháp, gió từ bốn phía tràn vào, tôi buộc phải móc dây an toàn vào vòng trong trước, rồi mới xoay từng tấc chốt khóa. Hoài Chu đứng ở tầng dưới báo tốc độ gió cho tôi mà không vượt qua vạch cảnh báo. Khi tấm gương cuối cùng rời khỏi bệ, vệt trắng quen thuộc cuối cùng trên biển xa tắt ngấm, trong chốc lát tôi chỉ nhìn thấy một màu đen.
Thị giác của tôi không hề biến mất. Chỉ là bảy luồng sáng đó tồn tại quá lâu, khi tất cả cùng tối sầm lại, nhất thời tôi không biết phải nhìn vào đâu. Vài giây sau, ánh vàng của tàu đèn tạm thời mới quay trở lại mắt tôi. Tôi bám ch/ặt lan can, hiểu rằng cảng vụ cũng phải trải qua vài giây tương tự: mất đi sự quen thuộc trước, rồi mới học cách nhìn thấy những thứ khác.
Trước khi niêm phong gương vào thùng, tôi lần lượt chụp lại vết khắc phía sau và vị trí tháo dỡ. Tên của Phương Tĩnh Lan được tôi viết vào hồ sơ sửa chữa chính thức, không còn chỉ nằm lại trong khe tường. Cô ấy không hoàn thành bước này thay chúng tôi, nhưng nếu không có cô ấy để lại cả thất bại và phương pháp, chúng tôi đã không thể đi đến ngày hôm nay.
Khi chiếc thùng gỗ cuối cùng được khóa lại, tôi mới phát hiện tay mình vẫn không ngừng r/un r/ẩy. Tôi không sợ tòa tháp đổ; điều khiến tay tôi r/un r/ẩy là một chuyện khác—một đáp án vốn được sử dụng qua nhiều thế hệ, thực sự đã dừng lại ở đây.