Ngày thứ ba kể từ khi sư tỷ bị đình chỉ công tác, tôi nhận được lệnh phúc nghiệm từ ba châu ngay tại cửa phòng giám định. Tờ lệnh chỉ dài nửa trang, trên cùng viết "Một th* th/ể nữ vô danh", dưới cùng hối thúc tôi trong vòng bảy ngày phải đưa qu/an t/ài đến trạm hội nghiệm tại nơi giao nhau của ba châu. Những dòng chữ ở giữa mới là thứ chói mắt nhất: Ghi chép lần khám nghiệm đầu tiên không khớp trước sau, nghi ngờ có sự giả mạo của người khám nghiệm t/.ử th/i.
Người khám nghiệm t/.ử th/i bị chỉ đích danh chính là sư tỷ của tôi, Trình Tố Hành.
Khi tôi gấp tờ lệnh lại, trong sân đang đổ mưa. Nước từ mái hiên phòng x/ác nhỏ xuống nền đ/á xanh, từng tiếng, từng tiếng một. Sư tỷ ngồi dưới hành lang, trên cổ tay vẫn còn vết hằn đỏ do thẻ khám nghiệm bị thu hồi ngày hôm qua để lại. Chị ấy không hề biện minh cho mình, chỉ giao cho tôi một cuốn sổ tay mỏng.
"Họ không cho chị đụng vào sổ sách quan phủ nữa," chị nói, "Em hãy nhớ kỹ hai điều này. Phía vai phải của cô ấy có một vết bỏng cũ, móng chân thứ hai bên trái bị mất một nửa. Hai chỗ này, chị đã khám qua hai lần."
Tôi lật đến trang đó. Chị dùng nét bút cực kỳ mảnh để ghi chú về các vệt nước trên t/.ử th/i, vết bầm sau gáy, những vết chai trên lòng bàn tay, bên cạnh còn vẽ một mảnh vạt áo nhỏ. Quan phủ hiện đang buộc tội chị giả mạo, lý do chính là trong bản sao gửi đi phúc thẩm không hề có những ghi chép này, ngược lại còn xuất hiện thêm "một thẻ hộ tịch của người Kê Châu, một chiếc áo ngắn màu đỏ nâu".
"Lúc đó chị có nhìn thấy thẻ hộ tịch không?" Tôi hỏi.
Sư tỷ lắc đầu. "Khi th* th/ể được đưa đến thì không có. Quần áo cũng là vải thô màu xanh."
Lồng ngựk tôi chùng xuống.
Đây không phải là sự khác biệt có thể che đậy bằng một câu viết nhầm.
Qu/an t/ài được đặt ở sân sau, lớp ngoài đã được dán thêm niêm phong. Theo quy định, tôi chỉ có thể kiểm tra niêm phong và dấu ấn trước khi hội nghiệm tại ba châu, không được phép mở qu/an t/ài lần nữa. Thế nhưng khi vòng ra phía đuôi qu/an t/ài, tôi phát hiện sợi dây gai thứ hai mới hơn sợi thứ nhất, nút thắt cũng là kiểu thắt quen thuộc của Ty Tuần kiểm, không phải nút dẹt được dùng khi niêm phong tại phòng giám định.
Có người đã động vào th* th/ể này sau khi sư tỷ bị đình chỉ.
Bộ khoái áp giải Tạ Lâm Xuyên đang đợi tôi ngoài cửa sân. Anh ta mặc bộ áo vải thô đã giặt đến bạc màu, đ/ao bên hông không treo ở vị trí thuận tay nhất, như thể đang nhắc nhở bản thân rằng chuyến công vụ này khác với ngày thường. Tôi từng nhìn thấy tên anh ta - ở cột cuối cùng của văn bản khám nghiệm sơ bộ, người chứng kiến: Tạ Lâm Xuyên.
"Anh đã ký vào biên bản khám nghiệm sơ bộ," tôi nói.
Anh ta không né tránh. "Tôi đã ký."
"Trên đó viết có thẻ hộ tịch."
"Tôi biết."
Tôi ngước mắt nhìn anh. "Anh đã từng nhìn thấy nó sao?"
Tiếng mưa bỗng nặng hạt hơn. Anh ta dừng lại một lúc, chỉ nói: "Trước tiên hãy đưa qu/an t/ài đến trạm Tam Xóa đã. Trên đường nếu còn có thể tìm ra manh mối, tôi sẽ nói hết những gì mình biết."
Kiểu nói này dễ khiến người ta nổi gi/ận. Khi tôi xách hòm dụng cụ lên thuyền, tôi không thèm để ý đến bàn tay anh ta đưa ra giúp đỡ.
Sông Lư đang vào mùa nước nổi, sau khi quan thuyền rời bến, tường thành nhanh chóng lùi xa vào màn mưa. Qu/an t/ài được cố định ở giữa khoang thuyền, tôi lần lượt bóc các niêm phong ở bốn góc, ghi lại độ cũ mới của dây gai. Tạ Lâm Xuyên đứng ở cửa khoang, bảo người lái thuyền giảm tốc độ, nói rằng hai cửa xả nước ở thượng nguồn đang xả lũ.
Tôi vốn định chỉ coi anh ta là người áp giải. Nhưng đến chạng vạng tối khi tới bến đò nhỏ đầu tiên, anh ta đi kiểm tra các cọc gỗ buộc thuyền trước, sau đó đi dạo một vòng dọc bờ, lúc quay lại dưới đế giày dính đầy cát trắng mịn.
"Cát ở đây quá trắng," anh nói.
"Có liên quan đến th* th/ể sao?"
"Bản sao biên bản khám nghiệm sơ bộ nói rằng người được vớt lên tại vịnh Thanh Thạch. Nơi đó là bùn đen, không có loại cát này."
Tôi lấy sổ tay của sư tỷ ra từ hòm dụng cụ. Bên cạnh phần ghi chú về bùn cát trong kẽ tay, chị đã viết một câu: "Cát trắng mịn, lẫn mảnh vỏ ốc vụn."
Tôi lại kiểm tra thẻ bàn giao chuyển qu/an t/ài. Đêm qua khi chuyển từ phòng x/ác lên quan thuyền, người thực hiện là hai sai dịch của Ty Tuần kiểm, nhưng trên thẻ lại có một chỗ thời gian bị cạo sửa. Tôi nhờ tiểu lại trông coi sân mang sổ gốc đến, anh ta nói chiều hôm qua phòng chủ bạ từng phái người đến thúc giục một lần, lý do là "sông sắp lên nước, nên đi sớm". Sư tỷ nghe thấy vậy liền ngẩng đầu lên từ dưới hành lang, chỉ hỏi tôi: "Niêm phong đâu?" Tôi đưa hình dáng niêm phong đã bóc được cho chị xem. Chị nhìn chằm chằm vào nút thắt thứ hai, nói rằng trước khi bị đình chỉ chị chưa từng thấy qua.
Những lời này tôi ghi chép lại từng chút một, nhờ tiểu lại vẽ dấu tay làm chứng bên cạnh. Nếu thực sự có người động vào qu/an t/ài, tôi không muốn bất kỳ chi tiết nào chỉ tồn tại trong trí nhớ của riêng mình.
Tôi và Tạ Lâm Xuyên nhìn nhau.
Điểm đầu tiên có thể khớp được với nhau đã xuất hiện.
Đêm xuống, tôi đi kiểm tra qu/an t/ài. Dưới đáy khoang có một lớp nước mỏng, nhưng không phải thấm từ khe khoang vào. Sợi dây cố định bên trái qu/an t/ài đã bị ai đó c/ắt đ/ứt một nửa, vết c/ắt còn mới và sắc. Nếu đêm nay gió sóng mạnh hơn một chút, qu/an t/ài va đ/ập làm nứt mạn thuyền, thì lần phúc nghiệm sau bảy ngày nữa chỉ còn lại một câu "hư hỏng trên đường vận chuyển".
Tôi ngồi xổm xuống thắt lại nút, đầu ngón tay dính đầy sợi gai ẩm ướt.
Tạ Lâm Xuyên đứng sau lưng tôi khẽ nói: "Xem ra có người không muốn nó đến được trạm Tam Xóa."
Tôi không quay đầu lại.
"Vậy thì càng phải đến được đó."
Tôi thắt ch/ặt nút mới, thu gom những sợi gai bị c/ắt đ/ứt vào túi giấy. Khoảnh khắc đó, thứ tôi muốn điều tra không chỉ là sư tỷ có bị oan hay không. Người phụ nữ không tên trong qu/an t/ài này, từ lúc được vớt lên, được khám nghiệm, cho đến khi được đưa lên đường thủy, mỗi một bước đều có người viết thay cô ấy một phiên bản.
Tôi muốn biết phiên bản nào mới thực sự thuộc về cô ấy.