Khi đám người Ty Tuần Hà gỡ tấm biển thuyền xuống khỏi xà nhà, tôi đang cặm cụi đục rãnh sống thuyền cuối cùng trong lòng thuyền.
Tấm biển gỗ mun đó đã gắn bó với cha tôi hơn hai mươi năm, các góc cạnh bị sương sông mài mòn đến trắng bệch. Đám sai dịch bọc nó trong vải dầu, đóng dấu bùn đỏ ngay trước mặt tôi. Tôi chui ra từ đáy thuyền, mạt gỗ vẫn còn dính trên tay áo, chỉ nghe thấy cha ho hai tiếng ở sân sau.
"Chủ cũ không được phép chạy thuyền, chủ mới lại chưa vào sổ." Sai dịch nói, "Từ hôm nay, xưởng thuyền nhà họ Lục ngừng nhận việc đưa đò và vận chuyển thương mại."
Tôi hỏi: "Con gái nối nghiệp cha, sao không thể đổi tên?"
Hắn không đáp, chỉ đóng một tờ thông báo lên cột cửa. Quy tắc cũ của dân thuyền dọc sông Nam Tân Châu tôi thuộc lòng còn hơn cả hắn: Biển thuyền có thể truyền cho con trai, con rể, hoặc người cùng tông tộc đứng tên, nhưng tuyệt nhiên không viết là truyền cho con gái. Năm ngoái cha bị ngã g/ãy cổ tay phải, không thể cầm lái, xưởng thuyền thực tế đã do tôi quán xuyến, nhưng trong sổ sách quan lại, tôi vẫn chỉ là "thợ thuyền Lục Đường Chu".
Cha gọi tôi vào sân sau, đẩy một chiếc hộp gỗ cũ lên bàn. Bên trong là hàng chục tờ biên nhận tiền công ông tích cóp được.
"Đủ chống đỡ hai tháng." Ông nói.
"Không cần chống đỡ lâu đến thế."
Lời vừa dứt, Tuần Hà sứ Chu Duy Hành đã bước vào sân. Ông không mang theo nghi trượng, chỉ mang một cuộn bản đồ sông ngòi ướt sũng và một người mà tôi đã nhiều năm không gặp.
Tạ Hành Xuyên đứng ngoài ngưỡng cửa, gấu áo quan phục màu xanh xám nhỏ giọt nước. Giờ đây y là quan đo nước, bên hông đeo dây đo và thước nước, chứ không phải miếng ngọc bội trong lần đến nhà tôi bàn chuyện hôn nhân năm nào.
Tôi nhìn Chu Duy Hành trước: "Không trả biển thuyền, còn đến đây làm gì?"
Ông trải bản đồ sông ngòi ra. "Thượng nguồn mưa liên miên, thôn Thạch Lô mất đường thủy với sông ngoài. Thuyền quan mớm nước sâu, không vào được. Ta cần một chiếc thuyền có thể hạ thủy trong bảy ngày, mớm nước không quá một thước rưỡi khi không tải, chở mười hai người vẫn có thể vượt qua bãi cạn."
"Muốn tôi đóng cho ông?"
"Sửa một chiếc thuyền đáy bằng cũ cũng được."
Tôi nhìn những con đường được đá/nh dấu trên bản đồ. Từ bến tàu Nam Tân ngược lên phía bắc hai mươi dặm, rẽ đông qua Lộ Chủy, rồi dọc theo nhánh sông được đá/nh dấu sâu ba thước để vào thôn. Đoạn đó năm ngoái tôi mới thay đáy cho ngư dân, lúc nước cạn lộ ra cát trắng. Cho dù mưa bão, cũng không thể đột ngột sâu tới ba thước.
"Bản đồ này năm nào?"
Tạ Hành Xuyên lên tiếng: "Đầu xuân năm nay đo lại."
Giọng y vẫn bình thản như trong ký ức, không có lấy một lời thăm hỏi thừa thãi.
Tôi lấy thước tre đ/è lên góc bản đồ. "Thước đo nước ở nhánh đông Lộ Chủy đâu?"
"Trên bản đồ có ghi."
"Tôi hỏi thực địa."
Y khựng lại một chút. "Hôm qua mất liên lạc rồi."
Chu Duy Hành gõ ngón tay lên mặt bàn. "Đóng được, ta sẽ cấp cho nhà họ Lục một văn thư hành thuyền tạm thời, sau khi c/ứu hộ xong sẽ bàn lại chuyện biển thuyền."
Hai chữ "bàn lại" khiến tôi không cười nổi. "Tôi muốn biển của cha, cũng muốn đổi sang tên của chính mình."
"Đóng thuyền trước đi."
Cha cử động phía sau lưng tôi, tôi không quay đầu lại. Điều kiện này không tính là công bằng, nhưng ngoài cửa đã có hai người thợ thuyền đang thu dọn dụng cụ của họ. Chỉ vài ngày nữa thôi, xưởng thuyền mà tan rã, thì dù có lấy lại được biển cũng chẳng còn ai để sai bảo.
Tôi chỉ vào nhánh đông trên bản đồ. "Tôi muốn tự chọn kiểu thuyền, và phải mang theo quan đo nước đi cùng."
Chu Duy Hành nhìn Tạ Hành Xuyên một cái. "Được."
Tạ Hành Xuyên hỏi: "Tại sao nhất định phải là ta?"
"Vì bản đồ này nói nước sâu ba thước." Tôi nói, "Nếu tôi đóng ra chiếc thuyền mớm nước một thước, cuối cùng vẫn mắc cạn ở nơi các người vẽ là nước sâu, thì ít nhất phải có người biết lỗi là ở thuyền, hay ở bản đồ."
Y không phản bác, chỉ xắn tay áo lên, để lộ những vết chai mỏng trên cổ tay do dây đo cọ xát.
Chu Duy Hành nói thêm một điều: "Bảy ngày sau nếu không thể chạy thử, văn thư tạm thời vô hiệu."
"Năm ngày."
"Cô chắc chứ?"
Tôi cuộn bản đồ lại, đ/è dưới danh sách vật liệu của mình. "Ngày thứ sáu tôi muốn thử nước. Ngày thứ bảy, tôi muốn vào vùng lũ."
Sau khi mọi người đi hết, cha mới hỏi tôi: "Thật sự làm đáy nông sao?"
"Làm ạ."
Thuyền nhà chúng tôi xưa nay đều đóng kiểu thon dài, dựa vào sống thuyền sâu để giữ vững trong dòng nước xiết. Thuyền đáy nông thì khác, lòng thuyền phải rộng, đáy phải phẳng, chuyển hướng chậm, nhưng có thể lướt sát bãi bùn mà đi. Khi còn trẻ, cha chê kiểu thuyền này giống cái chậu gỗ lớn, chưa bao giờ để tôi nhận đơn hàng này.
Tôi bước vào lều đóng thuyền, nhìn khung thuyền dài làm dở dang hồi lâu, cuối cùng rút dây mực, bật lại một đường đáy thuyền rộng hơn trên mặt đất.
Tạ Hành Xuyên vẫn chưa đi. Y đứng ngoài lều, tay cầm cuộn bản đồ sông ngòi.
"Vừa nãy cô nói nhánh đông không thể sâu ba thước." Y nói.
Tôi ngẩng đầu. "Anh không tin?"
"Ta tin thước đo nước."
"Vậy thì đi tìm thước đo nước đi."
Y đặt một chiếc thước nước bằng đồng cũ dài ba thước lên bàn làm việc. Đầu dưới dính bùn mới, vạch bùn chỉ đến một thước bảy tấc.
"Đây là thứ vớt được từ hạ lưu Lộ Chủy tối qua."
Tôi nhìn chằm chằm vào vệt bùn đó, sợi dây mực trong tay từ từ căng thẳng.
Bản đồ sông ngòi quả nhiên có vấn đề.
Mà chiếc thuyền đáy nông đầu tiên tôi đóng, phải bắt đầu từ việc tìm ra đường thủy thực sự trên một tấm bản đồ đã bị sửa đổi.