Sương vẫn còn giăng trên mặt sông vào giờ Mão, chúng tôi kéo con thuyền mới qua một bãi bùn, ngược dòng tiến vào cửa dưới của kênh phân lũ cũ.
Con đường thủy này đã nhiều năm không có thuyền bè qua lại chính thức. Bèo tấm phủ kín mặt nước, rễ liễu hai bên bờ vươn ra như những chiếc vuốt rối lo/ạn. Con thuyền đáy nông của tôi mớm nước mỏng, có thể chen qua giữa những rễ cây và gờ bùn; cứ mười trượng, Tạ Hành Xuyên lại thả quả dọi một lần, ghi độ sâu nước vào một tờ giấy trắng.
"Một thước ba."
Tôi gõ đuôi chèo vào mạn thuyền, ra hiệu đã nghe thấy.
"Phía trước một thước một."
"Vẫn qua được."
"Nông hơn nữa là phải xuống kéo đấy."
Tôi ngoái đầu nhìn y. "Anh định mặc quan phục xuống bùn sao?"
"Quan phục cũng đâu có biết viết đơn kiện."
Câu này có chút dáng vẻ của y ngày xưa. Tôi nhịn cười, nhưng mũi thuyền lại va phải chỗ bồi lấp ngay khúc quanh. Quả nhiên cả hai chúng tôi đều phải xuống nước, xắn quần kéo thuyền. Bùn ngập đến bắp chân, tôi giẫm phải một tảng đ/á cứng, cúi người mò lên, đó là bia giới hạn của con đường thủy cũ.
Trên mặt bia chỉ còn lại nửa chữ "xả".
Tạ Hành Xuyên dùng nước rửa sạch bùn, đo phương vị dọc theo chân bia. Đường xả phía bắc trên bản đồ cũ hoàn toàn trùng khớp với vị trí hiện tại của chúng tôi.
Đi lên phía trên hơn trăm trượng, nước đột nhiên sâu hơn. Hai bên bờ cũng xuất hiện dấu vết xây đ/á chỉnh tề. Tôi cho thuyền áp sát bờ, dọc theo tường đ/á mò được một hàng lỗ vuông.
"Trước đây ở đây có ván chắn." Tôi nói.
"Cửa cống phân lũ."
"Bị tháo dỡ rồi."
Mạt gỗ trong lỗ vẫn chưa mục nát hết, màu sắc còn mới hơn đ/á cũ. Có kẻ không chỉ đắp đê, mà còn tháo dỡ toàn bộ cửa cống vốn có thể đóng mở, khiến nước không bao giờ có thể phân dòng về phía ruộng nhà họ Diêu được nữa.
Chúng tôi đang in dập lỗ đ/á thì một trận mưa rào ập đến, đành phải trốn vào đình Thần Nước bỏ hoang bên bờ.
Đình dột, tượng thần đã được chuyển đi từ lâu. Tạ Hành Xuyên nhét sổ đo vào trong áo, còn tôi thì trải giấy in dập lên bệ đ/á cho khô. Cả hai đều ướt sũng thảm hại, ngược lại chẳng còn tâm trí đâu mà giữ vẻ khách sáo.
Y lấy từ trong ngựk ra một tờ giấy gấp rất nhỏ.
"Có một chuyện, vốn dĩ tôi muốn đợi tìm được tiền lệ cũ đầy đủ rồi mới nói."
Tôi nhận ra ngay ấn đỏ ở góc giấy. "Hôn thư?"
"Phụ chú của năm từ hôn."
Tôi không nhận lấy.
Y đặt tờ giấy ở nơi khô ráo, tự mình lùi lại nửa bước.
Bên trên là chữ viết của y, viết rằng: Nếu nghề thuyền nhà họ Lục bị cản trở do con gái nối nghiệp, không được dùng việc kết hôn để chuyển tên sang hộ nhà họ Tạ làm giải pháp.
Tôi đọc đi đọc lại hai lần.
"Năm đó anh biết cha tôi muốn treo biển thuyền dưới tên anh?"
"Biết. Khi người lớn hai nhà bàn chuyện hôn sự, người của phòng tuần thuyền đã nhắc đến con đường này."
Cổ họng tôi nghẹn lại. "Vậy nên anh từ hôn."
"Là cô nói trước rằng không muốn dùng hôn nhân để đổi lấy biển thuyền."
Tôi nhớ đêm đó. Tôi nói với y ở hiên sau rằng, thà đi làm thợ thuyền cho nhà khác mười năm, còn hơn là gả cho người khác chỉ để biển của cha có thể tiếp tục dùng. Lúc đó y chỉ nói một câu "Biết rồi". Ba ngày sau, nhà họ Tạ liền gửi thư từ hôn. Người mai mối nói y đã vào Sở Đo Nước, chê con gái dân thuyền sau này gây liên lụy.
"Tại sao anh không nói cho tôi biết về tờ phụ chú này?"
Y nhìn cơn mưa ngoài đình. "Tôi tưởng rằng từ hôn cho sạch sẽ, chính là giúp cô."
"Để tôi tưởng rằng anh chê bai tôi, cũng coi là sạch sẽ sao?"
"Không tính là vậy."
Y trả lời quá nhanh, ngược lại khiến tôi không thể trút hết cơn gi/ận đã chuẩn bị sẵn.
Tạ Hành Xuyên lại lấy ra một cuốn sổ mỏng. "Sau khi vào Sở Đo Nước, tôi đã tra c/ứu quy định cũ về dân thuyền. Bốn mươi bảy năm trước, bên bờ nam có ba góa phụ cùng bảo lãnh lẫn nhau để tiếp tục giữ biển thuyền, sau đó điều lệ đó được sáp nhập vào chương cũ, không còn chép vào sổ mới nữa."
Tôi nhận lấy cuốn sổ. Trên trang giấy là những điều luật y chép lại, bên cạnh liệt kê số hiệu của các hồ sơ vụ án cũ có thể làm chứng.
"Anh tra cái này bao lâu rồi?"
"đ/ứt quãng mấy năm nay."
"Tại sao?"
Y không nói lời nào hoa mỹ, chỉ đáp: "Vì năm đó tôi đã thay cô từ chối một con đường, ít nhất cũng nên tra rõ xem còn con đường nào khác không."
Tiếng mưa gõ trên mái ngói vỡ, âm thanh dày đặc.
Tôi khép cuốn sổ mỏng lại. "Anh vẫn là người đưa ra quyết định thay tôi."
"Phải."
"Chuyện này không thể vì xuất phát điểm của anh tốt mà coi như chưa từng xảy ra."
"Tôi biết."
Y đứng bên mép đình đang dột, vai ướt một mảng lớn, cũng không dịch lại gần phía tôi.
Tôi bỗng cảm thấy, mấy năm nay chúng tôi đều ghi nhớ đối phương thành một phiên bản rất dễ dàng. Tôi nhớ y chê bai dân thuyền, và có lẽ y cũng nghĩ việc từ hôn năm đó là mình đã làm đúng. Đêm đó thực sự khó coi hơn nhiều so với những phiên bản này, và cũng khó nói rõ hơn.
Sau khi mưa tạnh, tôi cất lệ cũ về bảo lãnh vào túi công cụ của mình.
"Nói trước nhé." Tôi nói, "Chuyện đòi lại biển thuyền, tôi tự làm."
"Được."
"Anh có thể cho tôi số hiệu hồ sơ."
"Được."
"Đừng tìm người bảo lãnh giúp tôi."
Lần này y khựng lại một chút rồi mới gật đầu. "Được."
Chúng tôi tiếp tục đi lên phía trên.
Cuối con kênh cũ, vừa đúng chạm vào mặt sau của đê tư nhân nhà họ Diêu. Mực nước sau đê cao hơn thôn Thạch Lô gần năm thước, nước đọng bị chặn lại một cách cưỡng ép ngoài một vùng đất rộng lớn.
Tạ Hành Xuyên cắm thước nước xuống.
Còn tôi thì nhìn thấy một khe đất mới lấp ở lưng đê, từ trên xuống dưới trông như một vết thương chưa lành.
Đáng lẽ ở đó phải là một cửa cống xả lũ.
Nếu đợt lũ tiếp theo ập đến, thôn Thạch Lô chưa chắc đã trụ nổi.