Sau khi rời khỏi Lộ Khẩu, gánh hát hạ trại bên một thung lũng suối.
Chúng tôi cuối cùng đã c/ắt đuôi được kẻ truy đuổi nửa ngày đường.
Liễu Xuân Nương triệu tập mọi người lại, nói rõ rằng sự việc đã không còn là chuyện tư th/ù bình thường nữa. Nếu ai muốn rời gánh, bà vẫn trả đủ tiền công, không ngăn cản.
Không ai rời đi.
Lão trống sư ch/ửi một câu: "Xe đã qua cửa ải rồi, giờ quay lại mới là đồ ngốc."
Tiếng cười rất ngắn, nhưng lại khiến tôi trút được gánh nặng.
Trong đêm, Giang Chiếu Dã tìm tôi.
Hắn lấy ra một túi vải cũ, bên trong chỉ có nửa bản nhạc đã ố vàng.
Chính là nửa đầu của "Tẩu Mã Quan".
"Giờ có thể cho cô xem rồi."
Tôi không nhận.
"Tại sao trước đây không lấy ra?"
"Tôi sợ giấy vừa xuất hiện, người đã ch*t trước."
Hắn nói sau khi cha bị bắt, nhà hắn đã bị khám xét ba lần. Mẹ hắn kh//âu nửa bản nhạc vào áo mùa đông, đến tận lúc lâm chung mới giao cho hắn. Sáu năm qua, hắn đi theo gánh hát dọc con đường trạm dịch cũ, không chỉ để tìm nửa bản sau, mà còn tìm những người có thể chứng minh nhịp điệu đó từng được nghe thấy ở nhiều nơi.
"Anh muốn lật lại vụ án cho cha, tại sao không đến quan phủ?"
"Vì những kẻ định án năm đó vẫn còn người ở Ty Vận Lương."
Đây không phải là điều tôi có thể kiểm chứng.
Tôi chỉ ghi nhớ.
Giang Chiếu Dã đặt nửa bản phổ lên tảng đ/á rồi tự mình lùi lại.
Lúc này tôi mới tiến lên đối chiếu.
Nhịp phách ở nửa đầu khớp với những gì hắn gõ ở thung lũng tiếng vang, nhưng ở cuối lại có thêm một chữ "Hậu" (đợi) rất nhỏ.
Đợi tiếng trống tiếp theo.
Điều này chứng minh hắn không hề bịa chuyện ở thung lũng tiếng vang.
Tôi đặt các nét bút của nửa bản đầu cùng với nửa bản của mẹ lên xem xét. Hai người không phải cùng một nét chữ, cũng không có sự chỉnh sửa lẫn nhau. Điều này ngược lại càng có giá trị: hai bản ghi chép đến từ hai người khác nhau, ở những nơi khác nhau, nhưng nhịp điệu lại có thể khớp nối tại thung lũng tiếng vang.
"Cha anh có biết mẹ tôi giữ nửa sau không?" tôi hỏi.
Giang Chiếu Dã nói không biết.
Tôi tin câu này hơn hôm qua một chút.
Không nhiều.
Nhưng đủ để chúng tôi đi tiếp một đoạn.
Thính Xuyên ngồi bên cạnh, đột nhiên hỏi: "Anh Giang, anh cần em làm gì?"
Tôi theo bản năng muốn trả lời thay nó.
Nhưng em trai lại nói trước: "Chị, để em hỏi."
Tôi im lặng.
Giang Chiếu Dã nói: "Hiện tại không cần gì cả."
"Sau này thì sao?"
"Nếu muốn lật lại vụ án, có lẽ cần người phân biệt được nhịp điệu hoàn chỉnh trước công chúng."
"Chỉ mình em làm được?"
"Hiện tại xem ra là vậy."
Thính Xuyên im lặng rất lâu.
"Vậy em có thể chọn không đi không?"
"Được."
"Thế cha anh thì sao?"
Giang Chiếu Dã dời ánh mắt về phía đống lửa.
"Ông ấy đã ch*t nhiều năm rồi. Còn em vẫn đang sống."
Ngựk tôi bỗng thắt lại.
Câu nói này không có vẻ anh hùng.
Chỉ rất đơn giản.
Thính Xuyên gật đầu: "Vậy để em học xong rồi quyết định."
Giang Chiếu Dã nói được.
Hắn không lấy đi đôi tai của em trai tôi.
Cũng không lấy nỗi oan của cha đ/è lên vai một thanh niên m/ù lòa.
Tôi cầm nửa bản nhạc lên.
Khi Giang Chiếu Dã xoay người định đi, tôi gọi hắn lại.
"Năm cha anh bị định tội, anh bao nhiêu tuổi?"
"Mười tuổi."
"Anh có nhớ ông ấy nói gì cuối cùng với anh không?"
Hắn im lặng một lúc.
"Bảo tôi đừng học đá/nh trống."
Tôi không ngờ lại là câu này.
"Vậy mà anh vẫn học."
"Học múa thương trước. Sau đó mới học trống."
Hắn cười rất nhạt.
Tôi cũng lần đầu tiên hiểu ra, hắn điều tra vụ án này không chỉ để rửa sạch tên tuổi cho cha. Câu nói đó của cha trước khi đi cũng giống như một cái gai găm vào người hắn. Nếu vụ án không rõ ràng, ngay cả việc tại sao hắn lại vào gánh hát, tại sao lại học được tất cả các nhịp điệu, hắn cũng khó mà giải thích được.
"Cho tôi một đêm."
Hắn nhìn tôi.
"Tôi sẽ hợp hai bản phổ lại, chỉ viết nhịp điệu, không viết tên người. Ngày mai anh lấy lại."
"Cô không sợ tôi tr/ộm nửa sau sao?"
"Sợ."
Tôi rất thành thật.
"Cho nên bản gốc nửa sau vẫn ở trong đàn."
Hắn cười một cái.
Đây là lần đầu tiên chúng tôi có thể làm việc cùng nhau trong tình trạng cả hai đều không hoàn toàn tin tưởng đối phương.
Đêm khuya, tôi đặt hai bản phổ lại với nhau.
Nửa đầu ghi lệnh truyền, nửa sau ghi lệnh hồi đáp.
Nửa sau của mẹ không phải là phần bị thiếu trong bản phổ của cha, mà giống như lời hồi lệnh được một người khác ghi lại ở trạm dịch khác.
Tôi bỗng hiểu ra.
Giang Đồng Sách ghi lại "ai phát lệnh".
Mẹ ghi lại "nơi nào hồi lệnh".
Hợp cả hai lại, không chỉ chứng minh được nhịp điệu.
Mà còn vẽ ra được con đường thực sự mà số lương thảo đó đã đi qua.
Tôi xếp bốn cái tên trạm dịch theo thứ tự.
Thạch Môn - Lộ Khẩu - Hàn Thạch - Bắc Pha.
Trạm cuối cùng Bắc Pha không nằm trên lộ trình vận lương chính thức.
Đó là kho lương tư nhân lớn nhất năm đó.
Tôi nhìn chằm chằm vào tờ giấy rất lâu.
Tại sao kẻ truy đuổi lại săn đuổi một khúc nhạc, câu trả lời bắt đầu trở nên rất cụ thể.
Đêm đó khi hợp phổ, Giang Chiếu Dã luôn ngồi ở phía bên kia đống lửa, thực sự không hề tiến lại gần thêm.
Thỉnh thoảng tôi ngước mắt lên, thấy hắn đang lau cây thương gỗ.
Sự không hối thúc này khiến tôi an tâm hơn bất kỳ lời đảm bảo nào.
Trước khi đống lửa tắt, tôi tách hai bản phổ ra cất kỹ, không vì đêm nay nói chuyện nhiều mà thay đổi cách cất giữ.