Sáng hôm sau, tôi mang bốn đoạn vải gấu rèm đến xưởng làm việc của mình.
Đèn trên bàn làm việc sáng hơn và cũng tà/n nh/ẫn hơn ở nhà cũ. Khi đặt tấm vải bông pha lanh màu xám xanh lên, tất cả những vết bẩn cũ, vết phai nắng và đường kim mũi chỉ phục chế đều hiện rõ mồn một. Tôi so sánh hướng sợi vải, rồi nối các đường kinh vĩ của từng đoạn vải với mép dưới hiện tại của rèm cửa. Cả bốn đoạn đều khớp hoàn toàn, không có miếng nào đến từ loại vải khác.
Mẹ thực sự đã sửa ngắn đôi rèm đó bốn lần.
Tôi lấy mẫu chỉ từ mỗi lần kh//âu, chỉ c/ắt một đoạn nhỏ đã đ/ứt, không thể giữ lại được. Sợi chỉ nâu sớm nhất và sợi chỉ trắng gạo của năm thứ hai đều rất phổ biến, nhưng sợi chỉ xanh của năm thứ ba lại khiến tôi nhớ đến một loại chỉ hiếm dùng trong hộp kim chỉ cũ của mẹ. Bà chỉ dùng nó khi kh//âu nhãn tên cho con cái, vì màu sắc nổi bật, dễ tháo.
Chiều hôm đó, tôi quay lại nhà cũ tìm hộp kim chỉ.
Hộp vẫn nằm ở ngăn dưới cùng của bàn trang điểm trong phòng ngủ của mẹ. Cuộn chỉ xanh chỉ còn lại một nửa, bên cạnh đ/è ba mảnh giấy nhỏ đã ố vàng, ghi các kích thước: chiều cao bàn, chiều cao ghế, mép dưới rèm. Tờ giấy đầu tiên chỉ có một bộ số, tờ thứ hai và thứ ba mỗi tờ lại có hai bộ.
Không có tên.
Tôi dán các mảnh giấy cạnh khung cửa sổ phòng trống, dùng thước dây đo lại. Bộ số thứ hai khớp hoàn toàn với ba vết lõm hình tròn ở mặt trong khung cửa sổ. Nghĩa là, căn phòng này không chỉ từng đặt bàn học, mẹ còn từng điều chỉnh độ cao liên tục cho đứa trẻ sử dụng nó.
Tôi chợt nhớ ra một chuyện rất nhỏ.
Hồi tiểu học, tôi từng có hai chiếc cốc tráng men giống hệt nhau, một chiếc vẽ chim vàng, một chiếc vẽ chim xanh. Tôi vẫn luôn nghĩ chiếc cốc chim xanh đã bị làm vỡ, nhưng trong bức ảnh c/ắt dở tìm thấy hôm trước, chiếc cốc trên bàn chính là chiếc chim xanh.
Ký ức đó ùa về rất đột ngột nhưng không mang theo một khung cảnh trọn vẹn. Tôi chỉ nhớ có người từng để nhầm vị trí chiếc cốc, và chúng tôi đã cãi nhau vì chuyện đó. Người trong từ "chúng tôi" đó là ai, tôi không tài nào nhớ nổi.
Buổi trưa, cô tôi lại gọi điện.
"Cháu lại đi lục lọi đồ của mẹ cháu đấy à?"
Giọng cô đanh lại, không giống như đang hỏi.
"Cháu đang dọn dẹp di vật."
"Đừng có động vào hộp kim chỉ. Mẹ cháu có vài thói quen, cháu không hiểu được đâu."
"Bà ấy ghi lại kích thước của hai bộ bàn ghế."
Cô im lặng một lúc. "Có lẽ là đo giúp hàng xóm thôi."
"Tại sao bàn của hàng xóm lại đặt trong phòng trống nhà chúng ta?"
Cô không trả lời, chỉ nói: "Tri Vi, mẹ cháu mất rồi, nhiều chuyện không hỏi ra đáp án được đâu. Cứ mãi đào bới về quá khứ chẳng tốt cho ai cả."
"Không tốt cho ai cơ ạ?"
Đầu dây bên kia vang lên tiếng cốc chạm mặt bàn khẽ khàng. Cuối cùng cô nói: "Đừng lấy những chuyện cháu nhớ nhầm hồi nhỏ làm bằng chứng."
Tôi cầm điện thoại, nhìn hai dãy vạch bút chì trên tường.
Nếu chỉ mình tôi nhớ nhầm, thì vải vóc sẽ không nhầm theo, khung cửa sổ sẽ không nhầm theo, và những kích thước mẹ để lại cũng sẽ không nhầm cùng một lúc.
Buổi chiều, dì Ngô ở đối diện sang trả chiếc nồi hấp mà mẹ từng mượn lúc còn sống. Đứng ở cửa, thấy tôi ôm tấm rèm, câu đầu tiên dì nói là: "Cái rèm này vẫn còn à?"
Tôi dừng lại. "Dì nhớ ạ?"
"Tất nhiên, vải do chính mẹ cháu chọn. Hai cô bé đều chê màu trông già dặn."
Trong lòng tôi như có thứ gì đó bị gõ khẽ vào.
"Hai cô bé?"
Nụ cười trên mặt dì Ngô lập tức tắt ngấm. Dì nhìn tôi, rồi nhìn về hướng phòng trống.
"Dì nói hớ phải không?"
Tôi mời dì vào ngồi.
Dì không vào ngay mà chỉ đứng ở hiên nhà ôm ch/ặt chiếc nồi hấp, như thể đột nhiên không biết trong ngôi nhà này còn có thể nói những lời gì.
"Đứa trẻ đó tên là gì ạ?" Tôi hỏi.
Dì Ngô mím môi.
"Tên thì dì không nói thay cháu được. Cháu cứ đi tìm ảnh đi. Ngày trước mẹ cháu chụp cho hai đứa ở bên cửa sổ nhiều lắm."
"Trong album ảnh không có."
Dì nhìn tôi, ánh mắt dần trầm xuống.
"Vậy thì không phải cháu nhớ nhầm đâu."
Nói xong câu đó, dì mới đưa chiếc nồi hấp cho tôi.
Tôi đóng cửa, quay lại phòng khách, bê toàn bộ sáu cuốn album mẹ để lại ra sàn nhà.
Khi lật đến trang mười ba của cuốn thứ nhất, tôi phát hiện có một bức ảnh đã bị c/ắt.
Cuốn thứ hai có hai tấm.
Cuốn thứ ba còn nhiều hơn.
Những vết c/ắt đó sạch sẽ đến mức gần như cố ý, luôn c/ắt vừa vặn ngay sát bên cạnh tôi, như thể có ai đó đang kiên nhẫn bóc tách một đứa trẻ khác ra khỏi mỗi buổi chiều.
Tôi xếp những bức ảnh đã bị c/ắt theo trình tự thời gian, không vội đoán khuôn mặt của đứa trẻ kia. Ảnh tuy thiếu người, nhưng bối cảnh vẫn còn. Năm đầu tiên rèm gần sát đất, năm thứ hai ngắn đến mép bàn, năm thứ ba lại thu lên một đoạn; vạch bút chì thỉnh thoảng lộ ra ở góc tường cũng đúng là năm sau cao hơn năm trước.
Trong một bức ảnh, người ta chỉ c/ắt đi một nửa bên phải, nhưng lại không c/ắt sạch bàn tay đang đặt trên vai tôi. Bàn tay đó rất nhỏ, cổ tay buộc một sợi dây đỏ tết vặn vẹo. Tôi nhìn chằm chằm vào nó hồi lâu, trong đầu chợt lóe lên một mảnh ký ức: Có người ngồi bên cửa sổ buộc dây cho tôi, buộc sai ba lần, tôi chê tay cô ấy vụng, cô ấy liền nhét đầu sợi dây đỏ vào cổ áo tôi để trả đũa.
Tôi nhớ cái cảm giác ngứa ngáy đó, cũng nhớ mình đã cười rồi lùi lại phía sau.
Nhưng tôi vẫn không thể nhớ ra tên cô ấy.
Điều này còn khiến người ta bất an hơn cả việc không có ký ức gì. Có người từng ở gần tôi đến mức có thể đặt tay lên vai, vậy mà sau đó gia đình lại khiến cô ấy biến mất, chỉ còn sót lại một mẩu ngón tay không bị c/ắt sạch.
Tôi cho ảnh vào túi trong suốt, ghi lại ngày tháng và các manh mối có thể nhìn thấy.
Lần này tôi không gọi điện hỏi cô.
Tôi muốn biết, trước khi tất cả mọi người bắt đầu giải thích, bản thân các đồ vật có thể nói lên điều gì.