Tôi dành cả đêm để chụp lại những bức ảnh đã bị c/ắt bằng kỹ thuật số, không hề sửa chữa phần chân dung thiếu hụt, chỉ phóng to phần mép c/ắt, độ dày của giấy và năm tháng ở mặt sau.
Trong cuốn album thứ ba, có hai tấm ảnh được rửa từ cùng một cuộn phim. Tấm thứ nhất chụp ở sân, tôi đứng dưới sào phơi đồ, bên cạnh bị c/ắt mất một mảng lớn; tấm thứ hai chụp ở phòng khách, vết c/ắt chỉ lấy đi góc dưới bên phải. Ở góc đó vẫn còn sót lại nửa vạt váy, trên vải có một hàng hoa nhỏ màu trắng.
Tôi quay lại phòng trống lục hộp giấy, trong đoạn vải gấu rèm thứ hai có kẹp một mảnh vải bông cùng hoa văn.
Nó không phải vải rèm, mà là một miếng vá.
Mẹ từng kh//âu nó vào mặt sau của đoạn vải gấu rèm màu xám xanh, đường kim rất mảnh, như thể để cố định thứ gì đó. Sau khi tháo hai mũi kh//âu đã lỏng, tôi nhìn thấy bên dưới miếng vá có một dòng chữ viết bằng bút sáp nhạt đến mức gần như không thể nhìn thấy: hai vòng tròn méo mó, ở giữa nối với nhau bằng một đường thẳng.
Hồi nhỏ khi vẽ người, tôi thường dùng thân hình tam giác, không bao giờ vẽ như thế này.
Dì Ngô mãi đến chiều mới chịu vào lại nhà cũ. Dì ngồi ở vị trí gần cửa nhất trong phòng khách, tay không ngừng mân mê chùm chìa khóa của mình.
"Dì chỉ nói những gì dì tận mắt chứng kiến thôi," dì mở đầu.
"Vâng."
"Đứa trẻ đó từng ở đây, khoảng hơn hai năm. Không phải người ngoài đâu, là con gái của cô cháu đấy."
Tôi lặng người đi một lúc.
Cô tôi có một người con gái, chuyện này tôi biết. Chị họ Lâm Thư Dư hơn tôi một tuổi, hiện đang sống ở nơi khác. Chúng tôi gần như không qua lại. Cách giải thích của gia đình về chị ấy luôn rất đơn giản: Sau khi cô tôi ly hôn, cô mang chị đi làm việc khắp nơi, chị chưa từng sống ở đây từ nhỏ.
"Thư Dư ạ?" tôi hỏi.
Dì Ngô gật đầu.
Phản ứng đầu tiên của tôi lại là sự hoang đường. Bởi vì tôi đã gặp Thư Dư trưởng thành hai lần, một lần ở đám tang bà ngoại, một lần khi mẹ nằm viện. Chị ấy khách sáo với tôi như một người họ hàng xa, và tôi cũng chưa bao giờ cảm thấy chúng tôi từng ngủ dưới một mái nhà.
"Tại sao chị ấy lại ở đây?"
"Lúc đó công việc của cô cháu không ổn định, bảo là để con bé ở với mẹ cháu trước. Ban đầu nói là nửa năm, sau đó kéo dài hơn hai năm." Dì Ngô nhìn về phía phòng trống, "Hai đứa ngày nào cũng ở bên nhau. Con bé ngủ ở phòng đó, cháu thì hay ôm gối chạy sang."
"Sau đó thì sao ạ?"
Dì Ngô chà xát ngón cái lên chùm chìa khóa.
"Cãi nhau một trận. Rất lớn. Đêm đó cô cháu mang con bé đi, trời chưa sáng xe đã chạy rồi."
"Vì sao lại cãi nhau ạ?"
"Cái này dì thực sự không biết. Chỉ nghe thấy bà ngoại cháu cũng ở đó, nói những lời rất khó nghe."
Tôi hỏi mẹ đã làm gì.
Dì Ngô lắc đầu. "Ngày hôm sau bà ấy tháo rèm xuống giặt. Vài ngày sau lại treo lên, căn phòng trở nên trống rỗng. Sau đó nhà cháu không bao giờ nhắc đến đứa trẻ đó nữa."
Tôi đẩy bức ảnh có chiếc váy hoa về phía dì.
Dì liếc nhìn rồi nói: "Đây là Thư Dư. Con bé có một chiếc váy như thế này, thích nhất, giặt đến bạc màu cũng không chịu thay."
Bằng chứng đến đây đã đủ để chứng minh một điều: Chị họ quả thực từng ở trong căn phòng trống.
Nhưng câu hỏi tôi thực sự muốn biết lại càng trở nên nặng nề hơn.
Sau khi chị ấy bị đưa đi, tại sao mỗi cuốn album đều phải c/ắt bỏ hình ảnh chị ấy? Tại sao những vạch chiều cao trên tường không bị xóa, và tại sao vải gấu rèm lại được giữ lại?
Khi tôi tiễn dì Ngô ra cửa, dì bỗng quay đầu lại.
"Có lần mẹ cháu hỏi dì, sau khi ảnh bị c/ắt đi, liệu người đó có coi như chưa từng đến hay không."
Tim tôi thắt lại. "Bà ấy hỏi khi nào ạ?"
"Không lâu sau khi Thư Dư đi."
"Dì trả lời thế nào ạ?"
"Dì bảo làm gì có chuyện đó."
Dì Ngô cười khổ một tiếng. "Bà ấy cũng không nói là ai đã c/ắt."
Buổi tối, tôi đặt một tấm ảnh chưa được c/ắt sạch lên sàn phòng trống, đối chiếu với hai dãy vạch chiều cao trên tường.
Bên cạnh vạch nhạt cao nhất có một vết cào ngang ngắn, như thể từng viết chữ rồi bị tẩy bằng cục tẩy. Ánh sáng xiên chiếu qua, tôi nhìn thấy một đoạn cung bút chì còn sót lại.
Tôi không có khả năng đọc ra cái tên từ vết tích đó.
Nhưng tôi đã biết cái tên đó rồi.
Lâm Thư Dư.
Lần đầu tiên, trong căn phòng vốn được gọi là "phòng trống" suốt hơn hai mươi năm, tôi đã nói rõ ràng cái tên của chị ấy.
Sau khi cái tên thốt ra, trong đầu tôi không lập tức hiện về thêm hình ảnh nào. Điều này ngược lại khiến tôi nhẹ nhõm hơn một chút. Ký ức không phải là một cánh cửa sẽ đột ngột mở ra chỉ vì biết được đáp án, và tôi cũng không muốn vì để lắp ghép câu chuyện cho hoàn chỉnh mà tự bịa ra các tình tiết cho bản thân mình thời thơ ấu.
Tôi chỉ viết những điều có thể x/ác nhận ra giấy: Thư Dư từng ở đây hơn hai năm; phòng trống có vạch chiều cao của chị ấy; rèm cửa được sửa ngắn ít nhất ba lần theo độ cao bàn học; ảnh bị c/ắt sau khi chị ấy rời đi; mẹ biết ảnh bị c/ắt nhưng không xóa vạch trên tường, còn lưu giữ cả những mảnh vải c/ắt ra.
Viết đến mục cuối cùng, tôi khựng lại.
Nếu mẹ thực sự muốn xóa sạch Thư Dư khỏi ngôi nhà, tại sao bà lại để lại những thứ dễ bị một người làm nghề phục chế vải như tôi nhìn thấu nhất?
Tôi quay lại bên hộp giấy, xem xét lại trình tự lưu trữ của bốn đoạn vải. Mỗi đoạn đều được bọc bên ngoài một lớp báo cũ rất mỏng, ngày tháng trên báo cách nhau khoảng một năm. Ngày tháng trên đoạn vải cuối cùng, lại nằm ở thời điểm sau khi Thư Dư bị đưa đi.
Nghĩa là, mẹ vẫn đụng vào đôi rèm đó sau khi chị ấy rời đi.
Tôi viết việc này vào một dòng riêng, vẽ một dấu chấm hỏi.
Bí ẩn của căn phòng trống không còn chỉ là "ai đã từng ở".
Sau khi có người rời đi, mẹ vẫn đang tiếp tục xử lý những dấu vết mà chị ấy để lại.