Mặt sau của đoạn vải cuối cùng ẩn giấu một dấu vết tháo chỉ mà tôi đã bỏ qua trong những lần trước.
Đó không phải là đường kim mũi chỉ của gấu rèm, mà là một chiếc túi nhỏ hẹp. Mẹ từng kh//âu hai lớp vải lại với nhau, sau đó lại tháo ra. Bên trong lỗ kim còn sót lại một chút xơ giấy, tôi dùng nhíp gắp ra, chỉ còn lại vài milimet, không có bất kỳ chữ viết nào.
Tôi quay lại nhà cũ lục tủ kh//âu vá của mẹ.
Mẹ có trật tự riêng khi cất giữ đồ đạc. Cúc áo theo màu, khóa kéo theo độ dài, vải vụn thì phân thành hai ngăn "có thể vá" và "không thể vá". Trước đây tôi chê bà quá tỉ mỉ, cho đến khi bà đi rồi mới nhận ra, sự tỉ mỉ này thực chất cũng là một dạng chỉ mục.
Phần vải vụn cùng chất liệu với rèm xám xanh nằm dưới cùng của ngăn "không thể vá".
Bên dưới đ/è một chiếc phong bì cũ.
Phong bì không dán kín, người nhận chỉ ghi mỗi chữ "Thư Dư". Bên trong là một tấm thiệp sinh nhật chưa gửi, ghi ngày vào năm thứ hai sau khi chị ấy rời đi. Chữ của mẹ rất bình thường, không xin lỗi, cũng chẳng giải thích, chỉ viết rằng bà vừa sửa ngắn rèm cửa bên cửa sổ thêm một lần nữa, vì nhớ rằng nếu Thư Dư còn ở đây, bàn học có lẽ nên nâng thêm một nấc.
Tôi đọc đến đây, tay dừng lại trên tờ giấy hồi lâu.
Hóa ra lần sửa ngắn cuối cùng không phải để xóa bớt dấu vết trong phòng.
Mẹ đã đo đạc theo chiều cao tưởng tượng và sửa rèm cho một đứa trẻ không còn ở đó nữa.
Nửa sau tấm thiệp bị x/é mất, chỉ còn câu mở đầu: "Nếu một ngày con muốn biết..."
Phía sau không còn gì nữa.
Tôi lục tung phong bì cũng không tìm thấy trang bị thiếu.
Tấm thiệp này không giúp mẹ gột rửa được điều gì. Bà vẫn tham gia vào sự im lặng, và cũng không thực sự gửi tấm thiệp sinh nhật đi. Nhưng đôi rèm cửa ngắn đi mỗi năm bỗng nhiên mang một ý nghĩa khác: ba lần đầu là sự thay đổi thực tế do cuộc sống để lại, còn lần cuối cùng lại là nỗi nhớ nhung bà không dám gửi trao.
Tôi đặt phong bì và đoạn vải vào cùng một chiếc hộp lưu trữ, rồi đi tìm phần mép ảnh bị c/ắt.
Chân dung bị c/ắt khỏi album không nằm trong tủ kh//âu vá. Nhưng mẹ có thói quen lưu giữ phim ảnh, tôi tìm thấy sáu cuộn phim cũ trong tủ trên ở phòng khách. Tiệm rửa ảnh đã không còn từ lâu, tôi mượn đèn bàn chụp ảnh ở xưởng để xem từng khung hình.
Cuộn phim thứ hai đã xuất hiện hình ảnh căn phòng trống.
Trong khung hình, tôi đang ngồi trên sàn cạnh cửa sổ, cô bé bên cạnh mặc váy hoa trắng, tóc c/ắt ngang tai. Chị ấy đang buộc một sợi dây đỏ vào cổ tay tôi. Khung hình tiếp theo, hai chúng tôi cùng đứng tựa vào tường, tay mẹ vươn vào từ ngoài khung hình, đầu bút chì đặt trên đỉnh đầu Thư Dư.
Cổ họng tôi thắt lại.
Bức ảnh đó không bị c/ắt, vì phim thì không thể chỉnh sửa.
Tôi tiếp tục xem tiếp. Năm thứ ba có một khung hình, Thư Dư đứng cạnh chiếc bàn đã nâng cao, rèm cửa xám xanh vừa vặn dừng lại phía trên mặt bàn. Độ dài trong ảnh hoàn toàn trùng khớp với đường gấu cũ thứ ba trên tay tôi.
Rèm cửa, độ cao bàn, vạch chiều cao, phim ảnh cuối cùng đã khớp với nhau.
Tôi lưu ba bản sao của các tệp đã chụp lại rồi mới gọi cho cô.
"Phim ảnh vẫn còn."
Cô không lên tiếng.
"Mẹ còn để lại một tấm thiệp sinh nhật chưa gửi."
Đầu dây bên kia truyền đến tiếng hít vào rất khẽ.
"Bà ấy vẫn giữ sao?"
"Vâng."
"Vậy tại sao bà ấy không gửi?"
"Cháu không biết."
Lần này cô không phòng thủ ngay. Một lúc lâu sau, cô nói: "Là dì không cho bà ấy tìm Thư Dư."
Tôi ngồi thẳng người dậy.
"Đêm đó sau khi các người cãi nhau xong, dì đổi số điện thoại, cũng bảo cả nhà không ai được cho bà ấy địa chỉ. Sau này bà ấy nhờ người hỏi thăm, dì đều chặn lại."
"Tại sao ạ?"
"Dì sợ bà ấy xuất hiện, Thư Dư lại muốn quay về."
Câu này nói rất nhỏ.
Tôi không an ủi cô.
Nỗi sợ của cô có thể hiểu được, nhưng không vì thế mà có thể viết lại ký ức của một đứa trẻ thành ảo giác.
"Cháu muốn liên lạc với Thư Dư," tôi nói.
Đầu dây bên kia lập tức căng thẳng. "Cháu không thể quyết định thay nó xem nó có muốn biết hay không."
"Vì vậy cháu chỉ hỏi trước xem chị ấy có muốn nghe hay không thôi."
Cô không đồng ý, cũng không ngăn cản nữa.
Sau khi cúp máy, tôi dừng khung hình ở cảnh hai đứa trẻ tựa tường đo chiều cao.
Đến bước này, tôi đã biết căn phòng trống từng thuộc về ai.
Câu hỏi còn lại là đáp án này rốt cuộc nên do ai nói ra, và nên để ai nghe thấy trước.
Tôi không tìm Thư Dư trực tiếp từ nhóm chat họ hàng. Điều đó sẽ kéo chị ấy vào tầm mắt của đám đông, giống như hơn hai mươi năm trước mọi người quyết định thay chị ấy xem chị ấy nên ở đâu vậy. Tôi chỉ gửi một tin nhắn rất ngắn vào hòm thư công việc công khai của chị ấy, nói rằng trong di vật của mẹ có vài món đồ liên quan đến tuổi thơ của chị, tôi có thể gửi ảnh trước, cũng có thể không gửi gì cả; nếu chị không muốn biết, tôi sẽ dừng liên lạc.
Sau khi gửi đi, tôi úp điện thoại xuống bàn.
Ba tiếng sau, màn hình sáng lên.
Thư Dư chỉ trả lời một câu: "Rèm cửa màu xám xanh còn đó không?"
Tôi nhìn chằm chằm vào dòng chữ đó, ngón tay bất động hồi lâu.
Chị ấy nhớ.
Và điều đầu tiên chị ấy nhớ, chính là đôi rèm cửa mà cả nhà nỗ lực giả vờ như không tồn tại nhất.
Tôi trả lời chị: "Vẫn còn, cháu đang phục chế nó."
Một lát sau chị mới viết: "Vậy đừng vứt đi. Chị muốn xem."