Sau khi bác Phạm biến mất, tôi dừng lại một ngày không lên tầng thượng.
Hạ Tri Viễn cho tất cả các bản ghi chép giấy vào hộp chống ch/áy, lý do rất đơn giản: dữ liệu kỹ thuật số sẽ bị ghi đ/è theo thế giới, còn bản giấy thì dường như không. Anh ấy còn viết tên mình, tên mẹ mình và tên tôi vào trang đầu, bên cạnh để một cột "Hôm nay còn nhận ra nhau không".
"Trông giống bảng theo dõi người mất trí nhớ quá," tôi nói.
"Ít nhất thì nó thực dụng."
Cả hai chúng tôi đều không cười.
Việc phá dỡ còn sáu ngày, các hộ dân bắt đầu chuyển những thùng đồ cuối cùng. Bà Trương hỏi tôi tại sao ô của bác Phạm lại để trống, tôi không giải thích thêm. Chừng nào bà ấy không nhớ, việc ép bà ấy tin vào điều đó chẳng khác nào tôi đang tạo ra một sự thương tiếc cho một người lạ thay cho bà.
Buổi chiều, tôi đến chỗ mẹ.
Bà vẫn nhận ra tôi, cũng nhớ Ngôn Xuyên. Ký ức về căn nhà thuê bị thiếu mất hôm qua vẫn chưa trở lại. Tôi hỏi bà về bác Phạm, bà nói chưa từng nghe qua. Tôi không thử thêm nữa.
Buổi tối, Hạ Tri Viễn mang đến một bản danh sách cư dân cũ.
Mười năm trước, tầng thượng vốn có bảy căn hộ.
Căn thứ bảy không có tên, chỉ có một vòng tròn vẽ tay.
"Vị trí của cánh cửa," tôi nói.
"Cũng có thể trước đây từng có phòng thật."
"Trên bản vẽ không có."
Chúng tôi chồng các bản danh sách khác năm lên bàn đèn. Vòng tròn đó chỉ xuất hiện trong hai năm, thời gian chính là giai đoạn tôi và Ngôn Xuyên đi xem nhà, chuẩn bị sống chung.
Lồng ngựk tôi trĩu nặng.
Tệ hơn nữa, bên cạnh vòng tròn có một ký hiệu bút chì rất nhỏ: phác thảo một chiếc chìa khóa lộn ngược.
Đó là ký hiệu cha tôi dùng khi dạy tôi vẽ các loại khóa, cũng là cách tôi dùng sau này.
Tôi không nhớ mình từng đến tòa nhà này.
Khi cánh cửa xuất hiện vào lúc rạng sáng, tôi không mở.
Tôi đặt chiếc chìa khóa đồng thau vào một chiếc khay sắt cách cửa ba mét. Thế nhưng ổ khóa tự phát ra tiếng cạch, như thể đang chờ đợi.
"Nó ngày càng không cần cô thao tác nữa," Tri Viễn nói.
"Vì chiếc chìa khóa sắp hoàn thiện rồi."
Chúng tôi đứng đợi đến lúc bình minh, nhìn cánh cửa biến mất trong ánh sáng đầu tiên. Danh sách cư dân không thay đổi.
Điều này ít nhất chứng minh rằng không mở cửa thì không có sự trao đổi.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi thực hiện một thử nghiệm nhỏ hơn.
Tôi chỉ cắm chìa khóa vào lỗ, không xoay, không bước qua.
Cánh cửa tự hé một khe nhỏ.
Phía bên kia là một nhà hàng.
Tôi nhìn thấy Ngôn Xuyên ngồi bên cửa sổ, đối diện là một người phụ nữ. Người phụ nữ đó quay lưng về phía tôi, bên cạnh đặt một chiếc xe đẩy em bé.
Tôi không bước vào.
Ngôn Xuyên ngẩng đầu, ánh mắt xuyên qua nhà hàng, như nhìn thấy tôi trong khe cửa. Anh không đứng dậy.
Khoảnh khắc đó, tôi bỗng thấy nhẹ nhõm.
Ít nhất không phải thế giới nào cũng nhét tôi vào bên cạnh anh ấy.
Tôi đang định đóng cửa thì người phụ nữ quay người lại.
Khuôn mặt nghiêng của cô ấy không phải người lạ.
Là tôi.
Chỉ là tóc ngắn, mặc chiếc áo khoác đỏ mà tôi chưa từng m/ua, ngón áp út tay trái có nhẫn.
Tôi cứng đờ cả người.
Ngôn Xuyên trên bàn ăn nhìn cô ấy, nói điều gì đó. Cô ấy cười.
Nụ cười đó tôi nhận ra, nhưng không nhớ nổi mình đã từng cười như vậy từ bao giờ.
Tôi đóng cửa lại.
Hạ Tri Viễn hỏi: "Thấy gì không?"
"Tôi và anh ấy có con."
Khi câu nói này thốt ra, tôi không khóc, cũng không gh/en tị, chỉ cảm thấy đầu óc rất ồn ào.
Tri Viễn không hỏi tôi có muốn quay lại không.
Anh chỉ ghi lại thời gian: "Mở cửa 47 giây, không bước qua."
Danh sách cư dân không thay đổi.
Chúng tôi lại x/ác nhận thêm một quy tắc: nhìn thấy không đồng nghĩa với trao đổi, phải bước qua mới bắt đầu.
Trước khi trời sáng, tôi lấy bản danh sách cũ mười năm trước ra.
Dưới hình phác thảo chìa khóa cạnh vòng tròn có một vết ấn nhỏ. Tôi dùng ánh sáng xiên chiếu vào, miễn cưỡng nhìn ra hai chữ.
"Chưa thành".
Tôi nhìn chằm chằm vào hai chữ đó rất lâu.
Đó không phải là ký hiệu số phòng.
Mà giống như ghi chú của một người am hiểu về khóa để lại hơn.
Tôi đặt chiếc b/án thành phẩm đồng thau bên cạnh, hình dáng gần như trùng khớp.
"Chiếc chìa khóa này có lẽ từng đến đây trước đây," Tri Viễn nói.
"Nhưng tôi không nhớ."
"Cũng có thể không phải là cô của hiện tại."
Câu nói này khiến lần đầu tiên tôi nghĩ đến một khả năng khác.
Thế giới sau cánh cửa không chỉ đang đợi tôi.
Chúng có lẽ cũng đã từng chạm vào nhau từ lâu rồi.
Nếu một phiên bản nào đó của tôi từng để lại chiếc chìa khóa chưa hoàn thiện ở đây, thì tại sao tôi ở thế giới thực lại vẫn có cùng một chiếc?
Tôi đặt chiếc chìa khóa vào lòng bàn tay.
Bề mặt đồng thau bỗng rung lên một cái.
Chúng tôi lại in ra ảnh chụp màn hình hình ảnh phản chiếu của cánh cửa đó. Trong ảnh, tôi có thể nhìn thấy trên tường nhà hàng treo một chiếc chìa khóa, hình dáng gần như giống hệt chiếc b/án thành phẩm trong tay tôi, nhưng cánh cửa vừa đóng lại, chiếc chìa khóa trong ảnh liền nhòe đi thành bóng kim loại bình thường. Tri Viễn nói, bằng chứng có thể lưu lại ổn định qua các thế giới dường như chỉ giới hạn ở những bản giấy đã tồn tại trước ở thế giới thực. Vì thế tôi bắt đầu yêu cầu mọi ghi chép quan trọng đều phải in ra trước, sau đó mới sao lưu kỹ thuật số.
Đêm đó bà Trương mang đến một ấm trà nóng, hỏi chúng tôi có phải vẫn đang điều tra "cánh cửa kỳ quái" không. Tôi hỏi bà xem năm đó trước khi chồng bà bước vào có mang theo gì không. Bà nghĩ rất lâu, nói chỉ nhớ ông ấy cầm chìa khóa tổng của phòng quản lý, sau khi trở về chiếc chìa khóa đó mất đi một cái răng. Chi tiết này khiến tôi liệt kê "sự bài trừ lẫn nhau của chìa khóa" thành một quy tắc cần kiểm chứng, thay vì chỉ quy sự bất thường cho chiếc chìa khóa của riêng mình.
Giống như có một chiếc chìa khóa khác y hệt, đang chạm vào nó từ phía bên kia của một thế giới nào đó.