Còn chưa đầy ba tiếng nữa là đến hạn chót tải lên hồ sơ dự thi chung kết. Khi tôi kéo tấm ảnh chụp trận mưa sao băng duy nhất của câu lạc bộ thiên văn vào thư mục tổng hợp, thông tin gốc hiện lên ở phía bên phải màn hình máy tính khiến tôi khựng tay lại. Ngày chụp không phải là thứ Bảy tuần trước, mà là tròn nửa năm về trước. Tôi nhớ rất rõ cái ngày đó—nhà trường bắt đầu phong tỏa sân thượng cũng chính từ đêm hôm ấy.
Tôi rút thẻ nhớ ra rồi cắm lại, đọc dữ liệu từ máy ảnh một lần nữa. Tên tệp, tốc độ màn trập, độ nhạy sáng đều bình thường, nhưng thời gian tạo tệp gốc thì không thay đổi. Vốn dĩ tôi chỉ là tổ trưởng tổ thiết bị, việc hôm nay cần làm chỉ là kiểm tra pin, số hiệu ống kính và xem tệp dự thi có mở được không, thế nhưng chuỗi ngày tháng đó lại giống như một cây kim nhỏ, đ/âm thủng một lỗ trên cái gọi là "quan sát chung" mà tất cả chúng tôi đã rêu rao suốt hai tháng qua.
Có tiếng gõ cửa bên ngoài phòng thiết bị. Tô Dư Sầm ôm cuốn sổ ghi chép của câu lạc bộ ló đầu vào, hỏi tôi: "Xong chưa? Mọi người đang đợi ảnh bìa đấy."
Tôi không trả lời, chỉ xoay màn hình về phía cô ấy.
Cô ấy đứng im không cử động. Ánh nắng buổi chiều xuyên qua khe cửa chớp c/ắt ngang gương mặt cô ấy, tôi thấy cô ấy nhìn vào ngày tháng trước, rồi đến tên tệp, cuối cùng ôm ch/ặt cuốn sổ trên tay hơn.
"Cậu biết rồi?" tôi hỏi.
"Đừng nói trong nhóm chat trước," cô ấy nói.
Câu nói này đã là một nửa câu trả lời.
Trận mưa sao băng quan sát cách đây một tuần là hoạt động lớn nhất của chúng tôi trong học kỳ này. Sáu thành viên thay phiên nhau trực canh mây, ghi lại độ sáng, hiệu chỉnh kính xích đạo. Tôi và Dư Sầm trực đến tận hai giờ sáng, cuối cùng mây vẫn không tan. Thế nhưng khi trời gần sáng, trong máy ảnh lại xuất hiện một tấm ảnh phơi sáng rõ nét, ba vệt sao băng chéo từ hướng Đông Bắc, ngay cả giáo viên hướng dẫn cũng nói đó là tác phẩm duy nhất của chúng tôi có khả năng lọt vào chung kết. Lúc đó tôi chỉ nghĩ rằng có ai đó đã chụp bổ sung thành công trong lúc tôi đi lấy pin dự phòng, còn tự trách mình một hồi lâu vì đã không tận mắt chứng kiến.
Bây giờ tôi phóng to bức ảnh. Các điểm sao được sắp xếp đẹp đến mức gần như không chân thực, ít nhất là không giống với đêm mà tôi nhớ. Đêm đó mây che khuất bầu trời chỉ để lại vài khe hở hẹp, trong ghi chép chung của chúng tôi thậm chí còn viết: "Sau 23 giờ 40 phút, phía Đông bị che khuất hoàn toàn".
"Tấm này không phải chụp hôm đó, đúng không?" tôi hỏi.
Dư Sầm dựa vào khung cửa, không phủ nhận. "Dĩ Tình, để mình nói hết đã."
Tôi khép một nửa chiếc máy tính xách tay lại. "Mình hỏi một chuyện trước. Tấm ảnh này có phải là từ đêm nửa năm trước không?"
Cô ấy im lặng vài giây rồi mới nói: "Phải."
Phòng thiết bị bỗng chốc yên tĩnh đến mức chỉ còn nghe tiếng máy hút ẩm. Tôi nhớ đến ánh đèn xe c/ứu thương trên sân thượng nửa năm trước, thông báo phong tỏa dán ở văn phòng nhà trường, và cũng nhớ đến việc cổ tay trái của Dư Sầm đến tận bây giờ vẫn phải đeo băng bảo vệ vào những ngày trời âm u. Sau đêm đó, câu lạc bộ suýt chút nữa bị giải thể, chúng tôi phải mất cả học kỳ viết bản cải thiện an toàn, mượn hành lang tầng thấp để quan sát, mới đổi được một cơ hội "mở cửa đặc biệt trước cuộc thi".
Mà bức ảnh chúng tôi định dùng để chứng minh câu lạc bộ xứng đáng được giữ lại, lại bắt nguồn từ chính đêm khiến sân thượng bị phong tỏa.
"Ai đã tráo ảnh?" tôi hỏi.
Cô ấy nhìn tôi. "Mình."
Bên ngoài cửa truyền đến tiếng kéo ghế của các thành viên. Đàn em Vương Nguyên Trình gọi qua cửa: "Tổ trưởng, thầy giáo bảo trước sáu giờ phải xem qua bản trình bày hoàn chỉnh một lần."
Tôi đáp một tiếng nhưng không mở cửa.
Dư Sầm đặt cuốn sổ ghi chép lên bàn. "Mình biết cậu sẽ kiểm tra tệp gốc, nên vốn định hôm nay mới nói với cậu."
"Hôm nay? Ba tiếng trước khi tải lên?"
"Ít nhất vẫn còn kịp để quyết định."
Tôi nhìn chằm chằm cô ấy. Đây là lần đầu tiên kể từ khi quen biết nhau từ hồi cấp hai, tôi cảm thấy từ "kịp" mà cô ấy nói lại chói tai đến vậy. Cô ấy luôn dám quyết định hơn tôi, và cũng luôn là người gánh chịu hậu quả nhanh hơn tôi một bước; nửa năm trước cô ấy cũng vậy, không đợi ai cả, tự mình lên sân thượng trước khi bị phong tỏa.
"Những người khác có biết không?"
"Không biết."
"Còn thầy Phương thì sao?"
Cô ấy lắc đầu.
Tôi mở lại máy tính xách tay, sao chép tệp gốc sang một thư mục chỉ đọc khác, khóa lại cùng với quy chế cuộc thi và ghi chép của đêm đó. Tay tôi rất vững, nhưng lòng thì chẳng hề bình yên.
Nếu bây giờ gỡ bỏ bức ảnh, chúng tôi coi như từ bỏ tổ nhiếp ảnh. Tiền thưởng cuộc thi là con bài mặc cả mạnh mẽ nhất để câu lạc bộ xin kinh phí cho địa điểm và bảo trì thiết bị trong năm học mới; nếu cứ thế gửi đi, ít nhất sẽ có năm thành viên không hề hay biết sự thật, đặt tên mình lên một tác phẩm không thuộc về buổi quan sát chung đó.
Tôi nhìn Dư Sầm. "Đừng động vào các tệp tin đã. Mình phải đối chiếu lại toàn bộ dữ liệu của đêm đó."
Vai cô ấy hơi chùng xuống, như thể đã biết trước tôi sẽ nói như vậy.
Nhưng đây là lần đầu tiên tôi không chắc liệu sau khi làm rõ mọi chuyện, chúng tôi còn có thể đứng cùng một chiến tuyến hay không.
Tôi để trang đăng ký cuộc thi ở trạng thái "Chờ x/ác nhận" thay vì "Gửi đi". Hành động nhỏ này khiến thời gian đếm ngược vốn chỉ còn ba tiếng bỗng trở nên nặng nề. Dư Sầm không giục tôi, chỉ vươn tay đóng cửa lại cẩn thận. Qua cánh cửa, tôi vẫn nghe thấy mọi người bàn tán xem nên mặc đồng phục câu lạc bộ nào vào ngày chung kết, không ai biết rằng bức ảnh khiến họ phấn khích suốt một tuần qua đã đẩy chúng tôi đến trước một cuộc thi khác.
Đó không phải là so xem ai chụp đẹp hơn, mà là chúng tôi có sẵn sàng thừa nhận rằng, thực tế lần này chúng tôi không hề chụp được gì hay không.