Trong hộp giấy ở phòng tối của căn nhà trống, tôi nhìn thấy chính mình năm mười bảy tuổi.
Bức ảnh trên cùng, tôi đang đứng bên cửa sổ một dãy lớp học cũ, tay ôm cuốn kỷ yếu nhiếp ảnh sắp rời gáy, tóc dài hơn bây giờ, gấu tay áo đồng phục xắn lên đến khuỷu tay. Tôi không thể nào nhận nhầm gương mặt đó. Điều càng không thể tin được là, tôi chưa từng nhìn thấy bức ảnh này, cũng không nhớ là có ai đứng bên kia đường chụp mình lúc đó.
Tôi lật mặt sau tấm ảnh, không có ngày tháng, chỉ có một chấm nhỏ bằng bút chì. Trình Thuật An vốn đang đo tường ở phía bên kia căn phòng, tiếng thước dây thu lại đột ngột dừng hẳn. Khi tôi ngước lên, anh đang nhìn bức ảnh trong tay tôi, biểu cảm không giống như lần đầu trông thấy nó.
“Anh nhận ra tấm này sao?” Tôi hỏi.
Anh ngập ngừng một nhịp rồi mới nói: “Đừng vứt vội.”
Căn hộ này là dự án dọn dẹp di vật tôi nhận trong tuần này. Chủ nhà định cư nước ngoài nhiều năm, sau khi qu/a đ/ời, ông Lương - chủ nhà - đã nhờ hỗ trợ dọn dẹp; Trình Thuật An là người phụ trách đo đạc hiện trạng căn nhà cũ, cũng là bạn trai tôi quen được hơn bốn tháng. Chúng tôi làm việc của mình, vốn chỉ định hoàn thành đợt phân loại đầu tiên trước khi trời tối, không ngờ trong phòng kho sâu nhất lại còn ẩn giấu một cánh cửa che bằng vải chắn sáng.
Làm công việc dọn dẹp di vật, tôi sợ nhất hai điều: tự ý thêu dệt câu chuyện cho những người không có mặt, hoặc coi những thứ không rõ công dụng là rác. Vì vậy, tôi không gặng hỏi Thuật An, mà trải từng tấm ảnh trong hộp ra mặt bàn làm việc.
Tấm thứ hai là xe b/án bánh mì ở cổng sau trường học. Tôi đang đứng dưới mái hiên tìm tiền lẻ. Tấm thứ ba chụp cửa sổ bên hông thư viện cũ, tôi chỉ lộ ra nửa mặt. Tấm thứ tư gần hơn, là lúc tôi ngồi trên ghế dài bóc một tấm bưu thiếp, trên đùi đặt hộp bút chì. Những khung hình đó không phải cùng một ngày, nhưng đều diễn ra vào năm tôi học lớp mười một.
Gáy tôi lạnh toát.
“Anh ra đo phòng khách trước đi.” Tôi nói.
Thuật An không nhúc nhích. “Ánh Đường.”
“Tôi đang làm việc.”
Anh đặt thước dây lên bệ cửa sổ, giơ hai tay không ra cho tôi thấy. “Được. Anh không đụng vào.”
Câu nói này không làm tôi yên tâm hơn, ngược lại còn khẳng định với tôi rằng anh biết một điều gì đó mà tôi không biết.
Trong phòng tối không có thiết bị hoàn chỉnh, chỉ còn lại khay rửa ảnh, chụp đèn đỏ và vài túi giấy trống ghi năm tháng. Ông Lương từng nói, những năm cuối đời chủ nhà hầu như không vào căn phòng này, vì vậy tôi không thể đá/nh đồng vị trí xuất hiện của chiếc hộp giấy với danh tính của người chụp. Thế nhưng Thuật An quen thuộc căn nhà cũ này, chắc hẳn cũng biết điều đó, câu “Đừng vứt vội” của anh vừa rồi lại nói quá nhanh, nhanh đến mức như đang ngăn cản một việc mà anh đã dự liệu từ trước.
Dưới hộp giấy còn có vài đoạn phim âm bản đã c/ắt rời. Tôi đeo găng tay cotton, kẹp một đoạn lên trước đèn kiểm tra. Trên mép có một dãy mã lô hàng và mã nhũ tương của xưởng in. Tôi đọc bốn số cuối, ghi vào bảng kiểm kê, rồi nhìn vào khung cảnh cửa sổ trong ảnh vài giây. Trường cấp ba của tôi không phải là ngôi trường quá nổi tiếng trong thành phố, nhưng khung cửa sổ lại có một miếng chắp chéo rất hiếm, tôi nhớ là năm đó sửa tạm sau một cơn bão.
“Đây không phải là trùng hợp.” Tôi nói.
Thuật An đứng ngoài cửa, cách tấm vải chắn sáng một bước chân. “Không phải.”
Tôi quay đầu nhìn anh. “Anh biết người chụp ảnh sao?”
Yết hầu anh chuyển động, không trả lời ngay.
Tôi thu hết ảnh vào túi giấy không axit, duy nhất tấm trên cùng vẫn để trên bàn. Trong ảnh, tôi hoàn toàn không hay biết gì về ống kính, thậm chí còn có chút vui vẻ, như vừa nhận được một tin tức mong đợi từ lâu. Khoảnh khắc đó làm tôi nhớ đến một đoạn thư từ qua lại từ rất lâu về trước.
Thời cấp ba, tôi từng trao đổi bưu thiếp nhiếp ảnh với một người chỉ ký tên là “Cửa sổ phía Bắc”. Chúng tôi chưa từng gặp mặt, không trao đổi tên thật, chỉ viết về ánh sáng nhìn thấy hôm nay, những khung cảnh muốn chụp mà không chụp được, và cả những lần bị mất nét mà mỗi người gh/ét nhất. Sau đó, đối phương đột nhiên không gửi thư nữa, tôi cũng không tìm ra lý do.
Tôi nhìn chằm chằm vào chấm tròn bằng bút chì ở mặt sau bức ảnh. Mỗi tấm bưu thiếp của “Cửa sổ phía Bắc” ở góc dưới bên phải cũng đều vẽ một hình tròn tương tự.
Câu hỏi vốn dĩ chỉ là “Ai đã chụp mình” trong lòng tôi, bỗng chốc trở nên hẹp hơn, và cũng khó trốn tránh hơn.
Tôi hỏi Thuật An: “Chị gái anh trước đây có chụp phim không?”
Anh nhắm mắt lại, lần này không né tránh nữa.
“Có.”
Tôi và Trình Thuật An quen nhau bốn tháng, biết anh có một người chị gái đã mất từ nhiều năm trước, biết chị ấy tên Trình Tri Vi, biết trong nhà vẫn còn giữ lại vài chiếc máy ảnh của chị ấy. Tôi chưa bao giờ đặt cái tên đó cạnh “Cửa sổ phía Bắc”.
Thế nhưng ngay cái nhìn đầu tiên khi thấy bức ảnh, Thuật An đã đặt chúng cạnh nhau rồi.
Tôi kéo tấm Iót làm việc lại gần phía mình. “Những thứ trong căn nhà hôm nay, cứ xử lý theo nội dung ủy thác trước. Còn về những gì anh biết, hãy đợi đến khi tôi xem xong những bằng chứng có thể xem, rồi anh hãy nói.”
Anh gật đầu.
Tôi không vì thế mà thả lỏng. Bởi vì tôi chợt nhận ra, thứ cần phải dọn dẹp hôm nay có lẽ không chỉ là một căn nhà trống.
Mà còn là một quá khứ đã tồn tại từ trước khi chúng tôi quen nhau, và anh là người nhận ra nó sớm hơn tôi một bước.