Tuần đầu tiên sau khi hủy kế hoạch sống chung, tôi không đến nhà Trình Thuật An, anh cũng không đến nhà tôi.
Chúng tôi vẫn nhắn tin, nhưng chỉ trao đổi về những việc đã hẹn trước. Thứ Tư, anh nhắc tôi về lô hộp chống ẩm đã về đến studio, thứ Năm tôi báo anh ông Lương dời lịch kiểm kê phòng tối sang cuối tuần. Không có chúc ngủ ngon, cũng không ai giả vờ như mọi thứ vẫn bình thường.
Tôi tưởng như vậy sẽ nhẹ nhàng hơn, nhưng điều thực sự khiến tôi khó chịu lại là những khoảng trống vốn không cần phải suy nghĩ. Đi siêu thị, tôi lại nhớ chúng tôi từng bàn xem ai sẽ m/ua gạo sau khi dọn về sống chung; thấy chiếc bàn ăn cũ, tôi theo phản xạ muốn chụp ảnh lại, ngón tay dừng trên nút gửi rồi lại buông xuống.
Thứ Bảy khi quay lại căn nhà trống, Thuật An đã đến trước. Anh đang đo khung cửa ở phòng khách, thấy tôi vào cửa, chỉ đặt bản vẽ đo đạc mới xuống dưới tấm kẹp của mình, không lại gần.
“Ông Lương nói hôm nay có thể tháo nốt tầng kệ di động ở bức tường cuối cùng.” Anh nói.
“Ừ.”
Chúng tôi như hai người đồng nghiệp chỉ thỉnh thoảng hợp tác với nhau.
Khi tháo đến tầng thứ ba, tôi phát hiện một tấm ảnh giấy mỏng nằm giữa tường và tấm kệ. Nó bị ép đến hơi cong, góc dưới bên phải cũng thiếu một góc vát. Hình ảnh không phải là tôi, mà là một bức tường trao đổi, trên đó treo rất nhiều túi thư đá/nh số. Ô số 41 trống không, ô số 73 lộ ra nửa tấm bưu thiếp.
Tôi đặt bức ảnh lên bàn.
Thuật An chỉ nhìn thoáng qua rồi nói: “Đây chắc là những cuộn phim cuối cùng của chị ấy.”
“Tại sao?”
“Giấy.”
Anh chỉ vào mặt sau tấm ảnh, không chạm vào. “Sau này chị ấy đổi sang loại giấy mờ dày hơn. Những tấm cuối cùng để lại ở nhà cũng là loại này.”
Tôi lấy thước đo vết c/ắt. Góc vát ngắn hơn những bức ảnh trước, khớp với ký hiệu ở cuộn phim cuối cùng trong bảng liên lạc. Đây không phải là câu trả lời mang tính quyết định, nhưng nó đã đẩy thời gian đến quanh thời điểm chúng tôi ngắt liên lạc.
Mặt sau bức ảnh có một dòng chữ bút chì rất mờ: “Ngày không gửi đi.”
Tôi đọc xong, lồng ngựk như bị thứ gì đó đ/è nặng.
Thuật An hỏi: “Em có muốn nghỉ một chút không?”
“Không cần.”
Tôi cho tấm ảnh vào túi rồi mới nói: “Bây giờ mỗi câu anh nói đều rất cẩn thận.”
Anh im lặng một lúc. “Vì trước đây anh cứ tưởng không nói cũng là một cách cẩn thận.”
Tôi ngẩng đầu.
“Bây giờ anh biết không phải rồi.”
Tôi không đáp. Đây là lần đầu tiên anh không chỉ nói “Anh sai rồi”, mà đã chỉ ra chính x/ác mình sai ở đâu.
Chúng tôi tháo xong các kệ, khi ông Lương đến lấy chìa khóa, ông nhắc đến một chuyện khác. Ông nói năm đó lần cuối cùng Trình Tri Vi đến phòng tối, chị ấy đã mang đi một lô phim, nhưng để lại một hộp giấy đã đóng gói kỹ, dặn rằng “nếu một ngày nào đó người số 41 tìm đến, thì đừng mở ra thay chị ấy”.
Tôi và Thuật An cùng nhìn ông.
“Hộp đó vẫn còn chứ?” Tôi hỏi.
Ông Lương nhíu mày. “Tôi tưởng nó ở trong tủ. Hai người không thấy sao?”
Chúng tôi kiểm tra lại tầng dưới cùng, không có. Ông Lương suy nghĩ mãi mới nhớ ra sau đó chủ nhà lát lại sàn, sợ ẩm nên đã dời vài thùng giấy lên tủ treo phía trên phòng ngủ.
Đây là điều đầu tiên thực sự cần tôi đưa ra quyết định.
Nếu hộp đồ đó đúng là để lại cho “số 41” - khoan đã, “Cửa sổ phía Bắc” mới là số 41, còn tôi là số 73. Tôi lập tức khựng lại.
“Ông Lương, ông chắc chắn chị ấy nói là số 41 chứ?”
Ông ngẩn người. “Có thể là 71? Tôi không nhớ rõ nữa.”
Tôi không để cho kỳ vọng của bản thân lấp đầy ký ức của ông.
“Vậy cứ tìm hộp trước đã, chưa thấy nhãn dán thì không giả định là cho tôi.”
Thuật An nói nhỏ: “Đúng.”
Chúng tôi bắc thang mở tủ treo. Bên trong cùng quả nhiên có một hộp giấy màu xám, bên ngoài quấn sợi dây thừng đã giòn rụm. Trên nắp hộp dán một mảnh giấy nhỏ.
Tôi đứng dưới chân thang, có thể nhìn rõ dòng chữ trên đó.
“Gửi số 73. Nếu cô ấy muốn xem, hãy mở ra.”
Trong phòng đột nhiên chỉ còn tiếng xe cộ ngoài cửa sổ.
Ông Lương hỏi: “Số 73 là ai?”
Tôi nhìn dòng chữ đó, không trả lời ngay.
Thuật An cũng không nói thay tôi.
Sau vài giây, tôi mới đáp: “Là tôi.”
Ông Lương sững sờ, tay vẫn vịn vào cạnh thang.
Chiếc hộp đó nằm ngay trong tầm tay, nhưng tôi không chạm vào.
Thuật An tiến lên nửa bước rồi dừng lại. Tôi thấy anh theo phản xạ muốn giữ thang cho tôi, nhưng cuối cùng chỉ hỏi ông Lương xem ông đứng có vững không. Động tác thu tay lại đó rất nhỏ, nhưng tôi đã nhận ra. Trước đây anh luôn quen giúp tôi làm mọi việc, còn bây giờ anh bắt đầu phân biệt được đâu là hỗ trợ an toàn, đâu thực ra là làm thay tôi.
Bởi vì cho đến khoảnh khắc này, vấn đề mới thực sự trở thành lựa chọn của riêng tôi. Trình Tri Vi để lại khả năng được đọc, nhưng không ép buộc tôi nhất định phải đọc.
Và tôi cũng lần đầu tiên nhìn rõ, việc Thuật An có thể ở lại trong mối qu/an h/ệ này hay không, không phụ thuộc vào việc anh giúp tôi giải mã được bao nhiêu bí ẩn của chị gái mình.
Mà phải xem anh có thể đứng cạnh câu trả lời đó, nhưng vẫn để quyền quyết định lại cho tôi hay không.