Giang Dữ vô cùng không hợp tác, cứ la lối đòi phải gặp mặt tôi bằng được. Nhưng luật sư của tôi nhất quyết không tiết lộ nửa lời về nơi ở của tôi.
Sau đó, đồ đệ của Giang Dữ nhắn tin cho tôi:
“Sư nương, cô thực sự muốn đi đến bước này với sư phụ sao?”
“Sư phụ có lẽ sẽ đồng ý rồi, vì tối qua cô Ôn đã tìm gặp sư phụ.”
“Hai người họ còn ôm nhau nữa.”
Tôi nhìn những dòng tin nhắn đó, vẫn không hề hồi đáp. Quả nhiên, ba ngày sau, Giang Dữ đã ký vào bản thỏa thuận ly hôn đó. Luật sư gửi cho tôi một bức ảnh, đó là chữ ký của Giang Dữ trên đơn ly hôn. Nét bút của anh ta bị ngắt quãng hai lần, trông như thể đang do dự và không cam tâm. Tôi nhìn bức ảnh vài giây, rồi úp ngược điện thoại xuống.
Lúc này, ánh nắng trên đỉnh núi tuyết ngoài cửa sổ đang đẹp rực rỡ. Lạc Tang gọi tôi xuống ăn cơm, tiếng gọi từ dưới sân vọng lên, mang theo cả mùi thơm của trà bơ nóng hổi. Tôi đã quen với lối sống mộc mạc và nhịp điệu chậm rãi ở nơi này.
Mùa đông năm đó, tôi cùng các đồng nghiệp trong đội phục chế cổ vật ở Tây Tạng đón Tết. Lạc Tang làm sủi cảo nhân th!t bò yak, thầy Khương mang đến hai bình rư/ợu lúa mạch. Mọi người quây quần bên bếp lửa, bên ngoài tuyết rơi dày đặc nhưng trong nhà lại ấm áp lạ thường. Tôi uống chút rư/ợu, lắng nghe thứ âm nhạc đặc trưng của vùng đất Tây Tạng, cảm thấy hơi buồn ngủ.
Lúc này, thầy Khương đột nhiên lên tiếng: “An Ninh, cha cháu trước đây cũng từng đến đây.”
“Hai mươi năm trước, ông ấy đã dẫn đội đi phục chế tòa tháp trắng dưới chân núi.”
“Sau đó, mẹ cháu mất vì khó sinh, ông ấy muốn cho cháu một tương lai tốt đẹp hơn nên đã đưa cháu về Bắc Kinh.”
“Khi rời đi năm đó, ông ấy từng nói, đợi sau khi nghỉ hưu sẽ đưa con gái đến đây xem.”
“Chỉ tiếc là...”
Thầy Khương không nói tiếp nữa, tôi nhìn thầy mỉm cười, uống cạn chén rư/ợu lúa mạch trong tay, rồi nhẹ nhàng thì thầm về phía dãy núi tuyết: “Cha ơi, con đã thấy rồi, Tây Tạng thực sự rất đẹp.”
Sau khi mùa xuân đến, việc phục chế bích họa trong kinh đường bước sang một giai đoạn mới. Có một loạt bích họa mới cần được phục chế khẩn cấp ở một ngôi làng xa hơn. Những bức bích họa đó lâu đời hơn, tình trạng bảo tồn tệ hơn, cần rất nhiều nhân lực.
Khi Lạc Tang giúp tôi thu xếp hành lý, cô ấy tiện tay nhét thêm một túi sữa khô và một miếng th!t bò yak khô vào ba lô của tôi: “Ở đó điều kiện khắc nghiệt, đừng để bị đói.”
Tôi cười nhận lấy.
Đến nơi tôi mới phát hiện, ngôi làng này quả thực còn vất vả hơn nhiều. Ngôi làng mới nằm sâu trong thung lũng, xe không vào được, tôi và thầy Khương phải cưỡi ngựa mất hai ngày mới tới nơi. Ở đầu làng có một kinh đường cũ, tường đất nứt nẻ, mái nhà dột nát, bích họa còn bị phủ một lớp bụi khói dày đặc. Khối lượng công việc lớn mà nhân lực lại không đủ. Thầy Khương xin đội hỗ trợ, đến chiều ngày thứ ba, người tăng viện đã đến.
Người mới đến tên là Lâm Cảnh Hành, tốt nghiệp chuyên ngành phục chế cổ vật được hai năm. Cậu ấy từng làm việc một thời gian ở các hang đ/á vùng Tây Bắc, thầy Khương nói cậu ấy là người có linh tính nhất trong số các chuyên gia phục chế trẻ tuổi, chỉ sau tôi.
Sau khi thầy Khương giới thiệu xong, Lâm Cảnh Hành nhìn về phía tôi, gật đầu: “Chào cô Hứa An Ninh.”
“Cậu biết tôi sao?”
Tôi hơi ngạc nhiên.
Cậu ấy cười gật đầu, có chút lúng túng: “Bức tượng Phật cô phục chế tháng trước đặc biệt xuất sắc, tôi đã đọc báo cáo phục chế của cô.”
Tôi không đáp lời, cúi đầu tiếp tục pha màu. Nhưng tôi không chú ý rằng, ánh mắt của Lâm Cảnh Hành kể từ ngày đó thường xuyên đặt lên phía tôi. Chúng tôi ở lại ngôi làng đó hai tháng. Trong hai tháng, tôi và Lâm Cảnh Hành đã cùng nhau phục chế xong một mảng tường bích họa lớn.
Ngày cuối cùng hoàn thành công việc, cậu ấy đứng bên cạnh tôi, nhìn bức tượng Phật vừa được vẽ lại, mặt hơi đỏ lên:
“Chị An Ninh, nếu chúng ta cứ mãi ở đây phục chế bích họa, chị có sẵn lòng không?”
Tôi nghiêng đầu nhìn cậu ấy, tai cậu ấy cũng đỏ ửng, nhưng đôi mắt nhìn tôi đầy chân thành. Đều là người trưởng thành, sao tôi có thể không hiểu ý cậu ấy. Trong hai tháng này, mỗi khi pha màu, cậu ấy luôn pha dư một phần đặt bên tay tôi. Tôi không với tới giàn giáo cao, cậu ấy sẽ lặng lẽ chuyển thang đến. Ngay cả bữa trưa, cậu ấy cũng lấy trong túi ra hai quả táo, một quả tự ăn, một quả đặt bên bát của tôi.
Tôi đặt bút vẽ xuống, suy nghĩ ba giây rồi nói: “Được.”
Lâm Cảnh Hành sững sờ, như thể không ngờ tôi lại đồng ý nhanh như vậy. Tôi nhìn cậu ấy:
“Nhưng có một điều kiện, không được mang táo cho chị nữa, ngày nào cũng ăn, chị ngán lắm rồi.”
Cậu ấy ngẩn người nhìn tôi vài giây, rồi bật cười thành tiếng, cười đến mức ngả người ra sau, rơi cả mũ.
“Sao chị không nói sớm? Vậy sau này em mang quýt cho chị nhé? Hay chuối? Trà bơ? Hay chị muốn ăn bánh sữa?”
Tôi nhìn dáng vẻ này của cậu ấy, trong lòng cũng thấy ấm áp.
“Mang gì cũng được, miễn không phải táo là được.”
Chuyện của Giang Dữ là sau khi xuống núi tôi mới nghe tin. Hai tháng trước ở trong làng phục chế bích họa, ngôi làng đó mới có điện không lâu, điện thoại lại càng không có lấy một vạch sóng. Vừa trở về sân nhà Lạc Tang, cô ấy đã cầm điện thoại đưa trước mặt tôi:
“Chị An Ninh, chị mau xem này.”
Lạc Tang có một người chị họ làm việc ở Bắc Kinh, thỉnh thoảng vẫn gửi cho cô ấy mấy tin tức bát quái.