Cô đưa tay chạm vào vết m/áu đã khô từ ba năm trước.
Ngày đó, có lẽ tôi cũng từng ngồi đây.
Chắc chắn tôi đã rất lạnh, và chắc chắn là rất đ/au.
Nhưng tôi vẫn đứng dậy.
Bởi vì tôi biết, cô ấy đang chờ c/ứu viện.
"Giang Ngạn."
Tối Vãn thì thầm:
"Lúc đó anh có từng h/ận em không?"
Tôi đứng trong gió tuyết, không trả lời.
Tôi chưa từng h/ận.
Trong khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, điều tôi nghĩ đến vẫn là liệu cô ấy có thể sống sót hay không.
Nhưng cũng chính vì thế, tất cả những gì cô ấy làm sau đó mới càng trở nên tà/n nh/ẫn.
Chiều muộn, Tối Vãn cuối cùng cũng đi đến nơi tôi bị tuyết lở vùi lấp.
Đội trưởng đội c/ứu hộ từng tìm thấy mảnh vỡ của thiết bị cầu c/ứu và điện thoại của tôi ở đây.
Tối Vãn ngồi xổm xuống, lấy từ trong ba lô ra hai chiếc nhẫn.
Chiếc của tôi đã biến dạng nghiêm trọng.
Chiếc còn lại là thứ cô ấy đã phái người lặn lội dưới biển suốt một tháng trời mới tìm thấy.
Năm đó, khi cô ấy tự tay ném nó đi, cô ấy tưởng rằng mình đang vứt bỏ một sự phản bội.
Giờ đây mới biết, thứ mà cô ấy ném xuống biển, chính là cuộc hôn nhân mà tôi đã cố gắng giữ gìn bằng cả tính mạng.
Cô ấy đào một cái hố nhỏ trong tuyết.
Đặt hai chiếc nhẫn vào trong.
"Anh nói, trừ khi cái ch*t chia lìa, nếu không không ai được phép tháo ra."
"Nhưng em đã là người phá vỡ lời hứa trước."
Tối Vãn từng chút một lấp tuyết lại.
"Cuộc hôn nhân này đã giam cầm anh quá lâu rồi."
"Bây giờ, em trả lại tự do cho anh."
Gió tuyết mỗi lúc một lớn.
Nhưng Tối Vãn không rời đi ngay.
Cô ấy ngồi trong tuyết, nhìn về phía dãy núi lặng lẽ xa xăm.
Cho đến khi trời tối hẳn, cơ thể cô ấy cũng dần mất đi cảm giác.
Tôi chợt hiểu ra, cô ấy không định sống sót trở về.
"Tối Vãn."
Tôi đứng trước mặt cô ấy.
Đây là lần đầu tiên sau ba năm, tôi không muốn cô ấy ch*t.
Không phải vì còn yêu.
Chỉ là cha đã vì cô ấy mà ch*t.
Mẹ cũng đã chịu đựng quá nhiều rồi.
Nếu cô ấy ch*t ở đây, mọi người sẽ nói cô ấy tuẫn tình vì tôi.
Như thể làm vậy, có thể xóa nhòa tất cả những gì cô ấy từng gây ra.
Cái ch*t quá dễ dàng.
Sống để gánh chịu, mới là cái giá thực sự.
Từ xa, ánh đèn đột nhiên sáng lên.
Đội trưởng đội c/ứu hộ dẫn người vội vã chạy đến.
Khi được tìm thấy, Tối Vãn đã bị hạ thân nhiệt nghiêm trọng.
Cô ấy hôn mê trong b/ệnh viện hai ngày.
Câu đầu tiên khi tỉnh lại là:
"Tại sao lại c/ứu tôi?"
Đội trưởng đội c/ứu hộ nhìn cô ấy.
"Bởi vì đội c/ứu hộ mà Giang Ngạn năm đó đã dùng cả mạng sống để tìm ki/ếm, ý nghĩa tồn tại của họ là c/ứu người."
"Không phải là đi cùng cô tìm cái ch*t."
Khóe mắt Tối Vãn chậm rãi lăn xuống một giọt lệ.
Sau khi xuất viện, cô ấy không quay lại núi tuyết nữa.
Cô ấy dùng số tài sản còn lại thành lập một quỹ c/ứu hộ núi tuyết.
Quỹ được đặt theo tên tôi.
Nhưng mẹ không đồng ý.
"A Ngạn c/ứu người, không phải để con mượn tên nó mà chuộc tội."
Cuối cùng, quỹ được đặt tên là "Ngày 17 tháng 12".
Mỗi năm vào ngày đó, Tối Vãn đều đích thân đi theo đội c/ứu hộ vào vùng núi.
Cô ấy học sơ c/ứu, vận chuyển vật tư, tìm ki/ếm người bị nạn.
Có người nhận ra cô ấy, hỏi tại sao cô ấy làm những việc này.
Cô ấy chưa bao giờ nói là để tưởng nhớ người chồng quá cố.
Chỉ nói:
"Bởi vì tôi n/ợ một mạng người."
Nửa năm sau, đội c/ứu hộ c/ứu thành công một cặp mẹ con bị mắc kẹt trên núi tuyết.
Cô bé sau khi tỉnh lại đã tặng Tối Vãn một bức tranh.
Trong tranh, một người mặc áo đỏ đang dắt tay một người khác, đi từ trong tuyết lớn về nhà.
"Cô ơi, cảm ơn cô đã c/ứu mẹ cháu."
Tối Vãn nhìn bức tranh rất lâu nhưng không nhận.
Cô ấy ngồi xổm xuống, đặt bức tranh trở lại vào tay cô bé.
"Người thực sự c/ứu hai mẹ con cháu, là một người tên Giang Ngạn."
"Chú ấy đang ở đâu ạ?"
Tối Vãn nhìn ra ngoài cửa sổ.
Những ngọn núi xa xa phủ đầy lớp tuyết vĩnh cửu, hệt như mùa đông không ai hay biết của ba năm trước.
"Chú ấy đi rồi."
Cô bé không hiểu tại sao cô ấy đột nhiên đỏ mắt, chỉ nhét bức tranh vào tay cô ấy.
"Vậy cô thay cháu tặng chú ấy nhé."
Tối Vãn nắm ch/ặt tờ giấy, các đ/ốt ngón tay hơi trắng bệch.
Cô ấy cuối cùng cũng hiểu ra, quãng đời còn lại dù có c/ứu được bao nhiêu người, cũng không phải là đang tích lũy sự tha thứ cho tôi.
Có những lỗi lầm có thể bù đắp.
Có những người, lại vĩnh viễn không bao giờ quay về.
Mẹ cũng đã quay lại thành phố này.
Sau khi căn nhà của nhà họ Giang được trả lại, bà không chuyển vào đó ở.
Bà b/án căn nhà đi, mở một tiệm hoa nhỏ.
Trong tiệm luôn bày loài hoa trà trắng tôi thích nhất.
Một ngày nọ, một cô bé chạy vào tiệm hoa.
Cô bé chỉ vào những bông hoa trong tủ kính, cười hỏi:
"Bà ơi, đây là hoa gì ạ?"
Mẹ sững sờ trong giây lát.
Sau đó bà ngồi xổm xuống, dịu dàng nói với cô bé:
"Đây là hoa trà."
"Con trai bà ngày trước thích nhất loài hoa này."
Khi nói câu đó, trong mắt mẹ vẫn còn đọng lệ.
Nhưng cuối cùng, bà cũng đã có thể mỉm cười khi nhắc về tôi.
Tôi đứng dưới ánh mặt trời, bỗng cảm thấy cơ thể trở nên nhẹ bẫng.