Khi Sầm Chiếu khiêng chiếc hòm cuối cùng của mẹ lên bàn, A Táo đang đứng ngoài cửa đòi lại hai cái tên.
“Thanh Lý và Bão Nguyệt là do tôi vẽ.” Cô ấn hai bản thảo cũ lên khung cửa, “Cô b/án tiệm thì được, đừng viết cả đồ của tôi vào danh mục hàng hóa.”
Mưa rơi thành từng sợi từ vành nón lá của cô. Sầm Chiếu thấy vết mực sắp ướt nhòe, vội đưa tay ra định nhận lấy tờ giấy, nhưng A Táo lại thu tay về.
“Nói trước đi, có phải không?”
“Vào trong rồi nói.”
“Lần nào cô bảo vào trong, cũng là muốn để dành chuyện đó đến cuối cùng.”
Họ đứng cách nhau bởi ngưỡng cửa một hồi lâu. Ba tháng trước, mẹ được an táng, tiền n/ợ da thuộc, tiền th/uốc thang và chi phí tang lễ của tiệm Chiếu Ảnh đều đổ lên đầu Sầm Chiếu. Cô liệt kê tất cả những giá đỡ con rối có thể b/án được ra một danh sách, phu nhân họ Hạ hứa sáng mai sẽ đến thu m/ua. Cửa tiệm khắc rối bóng trải qua ba đời này, cùng với sân sau và tấm biển hiệu cũ, vừa vặn bù đắp đủ một trăm sáu mươi lượng bạc.
Cô không nói cho A Táo biết trong thư, danh sách đó cũng đã tính cả hai con rối mới vào làm hàng tồn kho của tiệm.
Danh mục hàng hóa là do chính tay cô viết, không thể đổ lỗi cho bất kỳ ai.
Lần đầu tiên Thanh Lý được dán lên màn trắng, cái đuôi chỉ vẩy được nửa vòng, A Táo liền bảo cá trong nước không ai uốn thân thành nan quạt cả. Mẹ nghe xong, bảo cô tự tháo đinh làm lại. Bão Nguyệt lại càng là dáng vẻ mà A Táo đã thức bốn đêm liền mới quyết định được. Sầm Chiếu lúc đó chê cô chậm chạp, giờ đây trên danh mục hàng hóa, dòng chữ “hai mẫu mới” được viết gọn lỏn, như thể hai con rối này chưa từng được ai nâng niu trên tay.
Cô tự nhủ với lòng rằng phu nhân họ Hạ m/ua là m/ua cửa tiệm, chứ không phải m/ua cái tên. Chỉ cần trả hết n/ợ, bổ sung lại một cái tên cũng chưa muộn.
“Đưa giấy đây trước đã, kẻo ướt hỏng.” Sầm Chiếu nói.
A Táo cuối cùng cũng vào nhà, tự mình chốt cửa lại. Cô năm nay hai mươi ba tuổi, từng học nhuộm da với mẹ, sau đó ở lại tiệm làm ba năm. Hai tháng mẹ lâm b/ệnh nặng, Sầm Chiếu túc trực bên giường, còn cô một mình nhận việc lặt vặt, nấu keo, đòi n/ợ. Tiệm n/ợ cô hai tháng lương, Sầm Chiếu nhớ rất rõ, nên cô càng không muốn nhìn thẳng vào cô ấy.
Chiếc hòm gỗ long n/ão trên bàn không có khóa, nhưng nắp hòm như bị hơi ẩm bám ch/ặt. Hai người mỗi người đỡ một bên mới mở được nó ra. Lớp trên là kéo, dùi và đ/á mài mẹ thường dùng, bên dưới đ/è một chiếc tạp dề đen đã giặt đến bạc màu.
A Táo chạm tới đáy hòm, các đ/ốt ngón tay gõ ra tiếng vang rỗng tuếch.
Trong ngăn kẹp nằm tám tấm da mỏng, dài bằng bàn tay, không khắc nhân vật, chỉ để lại vài lỗ nhỏ li ti. Sầm Chiếu nhận ra ngay đó là các con rối ứng nghiệm. Mẹ chỉ cho cô xem một lần, rồi lập tức gói vào vải, bảo rằng thứ này nhìn thấy được hình dáng của việc sắp xảy ra, nhưng lại không nhìn thấy được lòng người, giữ lại còn phiền phức hơn là đ/ốt đi.
Bên trong gói vải có một dòng chữ nhỏ: Đến giờ Tý dùng đèn hồi quang chiếu, tám bóng sẽ lần lượt ứng nghiệm trước lúc bình minh. Bóng không tiếng, không màu, không trước sau; màn gương trái phải đảo ngược. Ứng nghiệm một bóng, da nứt một lỗ. Hủy da chỉ có thể hủy bóng, không thể thay người hủy việc.
“Không phải bà bảo đã đ/ốt từ lâu rồi sao?” A Táo hỏi.
Sầm Chiếu cũng muốn hỏi như vậy. Trước khi mẹ qu/a đ/ời, bà đã không nói được câu nào trọn vẹn, chỉ vẽ tám đường lên lòng bàn tay cô. Sầm Chiếu tưởng bà đ/au, nắm ch/ặt lấy bàn tay đó cho đến khi lạnh ngắt, chưa từng nghĩ đó là số lượng ở dưới đáy hòm.
Tiếng trống canh bên ngoài điểm giờ Tý. Đèn hồi quang treo phía trên bàn làm việc, là một chiếc đèn cũ có mặt lưng bằng bạc hai lớp. Sầm Chiếu châm đèn, kẹp tấm da mỏng đầu tiên vào que rối.
Trên màn trắng hiện ra một cái bát. Cái bát rơi từ mép bàn xuống, vỡ thành ba mảnh.
Tấm thứ hai là một bàn tay chỉ có ba ngón, áp lên cửa sổ.
Tấm thứ ba giống như cái kéo, lưỡi kéo mở ra cắn ch/ặt lấy một đoạn cổ tay. Trong tấm thứ tư, một người không đầu ôm hòm gỗ đi ra phía cửa. Tấm thứ năm là một tờ giấy bị x/é làm đôi. Tấm thứ sáu có lưỡi lửa bò qua hàng con rối da đang treo. Tấm thứ bảy là xà nhà g/ãy chéo, bên dưới chìa ra một bàn tay.
Nhịp thở của A Táo khựng lại.
“Đừng chiếu nữa.”
Sầm Chiếu đã đưa tấm thứ tám vào trong ánh sáng.
Hai người phụ nữ chồng lên nhau trên màn trắng. Người phía trước bị giá gỗ đ/è thấp, bím tóc xõa trên vai; người phía sau cao hơn, trên tóc cắm một chiếc trâm đuôi nhọn, tay cầm một con d/ao dài. Bóng d/ao vắt ngang qua ngựk người phía trước, đ/âm xuyên từ bên kia ra nửa thước.
Sầm Chiếu nhận ra mái tóc xõa của chính mình, cũng nhận ra chiếc trâm đó. Năm ngoái nhân dịp sinh nhật A Táo, cô đã dùng sừng trâu còn dư mài thành cái đuôi mảnh, tự tay tặng cho cô ấy.
A Táo bước lên phía trước, con d/ao trong bóng lại lún sâu thêm một tấc.
“Trên màn là ai?”
Sầm Chiếu rút tấm da ra. Màn trắng lập tức trống không, chỉ còn ngọn lửa đèn khẽ rung rinh trên tường.
“Không nhìn rõ.” Cô nói.
Cô đ/è tấm thứ tám xuống dưới tạp dề, nhân lúc A Táo cúi đầu nhặt gói vải, liền lấy đi con d/ao c/ắt da dài nhất trên bàn. Vỏ d/ao chạm vào gỗ, phát ra một tiếng động rất khẽ.
A Táo ngước mắt lên.
“Cô lại muốn để dành chuyện gì đến cuối cùng?”
Sầm Chiếu không trả lời. Cô khóa con d/ao vào ngăn kéo phía sau, giấu chìa khóa vào trong túi áo.
Ngoài cửa sổ, tiếng sấm lăn qua sông Ô Khê, trong nhà tám tấm rối da nằm xếp hàng cạnh nhau. Chiếc bát ở tấm đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn, còn trong tấm cuối cùng, con d/ao kia đã hạ xuống.