"Nhưng chúng ta vẫn ở bên nhau," anh nắm ch/ặt tay tôi, "Đó mới là điều quan trọng nhất."
Tôi gật đầu, nắm ch/ặt lấy tay anh.
Sau khi Niệm An đi đại học, nhà cửa bỗng chốc trở nên quạnh quẽ hơn hẳn. Niệm Viễn vẫn đang học cấp ba, ngày ngày đi sớm về khuya, bận rộn ôn thi. Sức khỏe bố mẹ chồng vẫn còn khá cứng cáp, nhưng dù sao cũng đã có tuổi, đi lại không còn thuận tiện như trước. Lạc Lạc cũng đã già, đi vài bước là bắt đầu thở dốc, phần lớn thời gian chỉ nằm phơi nắng ngoài sân.
Tôi và Phương Húc đều đã bước vào độ tuổi tri thiên mệnh. Hai bên thái dương anh đã lốm đốm tóc bạc, khóe mắt tôi cũng đã xuất hiện vết chân chim. Nhưng cả hai đều chẳng bận tâm, bởi đây chính là món quà của năm tháng, là minh chứng cho chặng đường chúng tôi đã cùng nhau đi qua.
Một hôm, Phương Húc đột nhiên nói: "Vợ à, chúng mình nghỉ hưu đi."
"Nghỉ hưu?" tôi ngẩn người, "Chúng mình còn chưa đến tuổi nghỉ hưu mà."
"Anh biết," anh nói, "Nhưng anh muốn tranh thủ lúc còn đi lại được, đưa em đi ngắm nhìn thế giới này. Chẳng phải chúng mình đã hứa rồi sao? Đợi các con học đại học hết, chúng mình sẽ đi du lịch vòng quanh thế giới."
Lúc này tôi mới nhớ ra lời hứa từ nhiều năm về trước. Khi đó chúng tôi còn trẻ, cảm thấy du lịch vòng quanh thế giới là một giấc mơ xa vời. Nhưng giờ đây, các con đều đã khôn lớn, chúng tôi cũng đã tích góp đủ tiền, đã đến lúc thực hiện giấc mơ ấy.
"Được," tôi nói, "Nghỉ hưu thôi."
Chúng tôi thông báo quyết định này với các con. Niệm An rất ủng hộ, nói rằng bố mẹ đã vất vả nửa đời người, giờ là lúc nên hưởng phúc. Niệm Viễn có chút luyến tiếc, nhưng cũng rất hiểu chuyện mà nói: "Bố mẹ cứ yên tâm đi ạ, con sẽ chăm sóc ông bà thật tốt."
Bố mẹ chồng tuy không nỡ rời xa nhưng cũng ủng hộ quyết định của chúng tôi. Mẹ nói: "Lúc trẻ các con không có cơ hội đi chơi, giờ có cơ hội rồi thì cứ đi ngắm nhìn cho thỏa thích đi. Ở nhà đã có chúng ta lo."
Vậy là, chúng tôi bắt đầu hành trình du lịch vòng quanh thế giới.
Trạm dừng chân đầu tiên là Paris. Chúng tôi đến tháp Eiffel, bảo tàng Louvre, Khải Hoàn Môn, đi dạo bên bờ sông Seine, ngắm hoàng hôn trên đồi Montmartre. Phương Húc dùng máy ảnh ghi lại từng khoảnh khắc, bảo là để về cho các con xem.
Trạm thứ hai là London. Chúng tôi tham quan bảo tàng Anh, cung điện Buckingham, cầu tháp London, ngồi du thuyền trên sông Thames, m/ua sắm trên phố Oxford. Phương Húc đ/âm ra nghiện món cá và khoai tây chiên của Anh, bảo là ngon hơn anh tưởng.
Trạm thứ ba là Rome. Chúng tôi tham quan Đấu trường La Mã, Vatican, đài phun nước Trevi, ăn kem trên quảng trường Tây Ban Nha, cho chim bồ câu ăn trước đền Pantheon. Phương Húc học theo cảnh trong phim, ném một đồng xu xuống đài phun nước, bảo là muốn mãi mãi bên em.
Chúng tôi đã đi rất nhiều nơi, gặp rất nhiều người, trải qua rất nhiều chuyện. Mỗi nơi đặt chân đến, chúng tôi đều gửi bưu thiếp cho các con, nhắn nhủ rằng chúng tôi ở đây và mọi thứ đều tốt đẹp.
Trong quá trình du lịch, chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn. Bất đồng ngôn ngữ, không hợp thủy thổ, lạc đường, đá/nh rơi đồ đạc... nhưng tất cả những điều đó đều không ảnh hưởng đến tâm trạng của chúng tôi. Bởi vì chỉ cần ở bên nhau, không có vấn đề gì là không thể giải quyết.
Có một lần, chúng tôi lạc đường ở một thị trấn nhỏ tại Nhật Bản. Trời dần tối, điện thoại cũng hết pin, chúng tôi không tìm được đường về khách sạn. Phương Húc nắm tay tôi, cười bảo: "Không sao, cùng lắm thì chúng mình ngồi bên đường một đêm, ngắm sao thôi."
Tôi nhìn anh, cũng mỉm cười: "Được, vậy thì ngắm sao."
Chúng tôi ngồi xuống bên đường thật, ngước nhìn bầu trời đầy sao. Đó là bầu trời sao đẹp nhất mà tôi từng thấy, dải ngân hà vắt ngang chân trời, những ngôi sao lấp lánh như kim cương.
"Vợ à," anh đột nhiên nói, "Em nói xem, nếu năm đó chúng mình không đến với nhau, thì giờ sẽ ra sao nhỉ?"
"Không biết nữa," tôi nói, "Nhưng chắc chắn sẽ không hạnh phúc được như bây giờ."
Anh cười, nắm ch/ặt tay tôi: "Đúng vậy, nên chúng mình rất may mắn."
Chúng tôi đi du lịch bên ngoài hơn nửa năm, đặt chân đến hơn mười quốc gia. Cuối cùng, chúng tôi trở về nước, đi đến Vân Nam, Tây Tạng, Tân Cương, ngắm nhìn núi tuyết, thảo nguyên và sa mạc.
Khi ở Tây Tạng, chúng tôi đến thăm một trường tiểu học hy vọng, tặng văn phòng phẩm và sách vở cho các em nhỏ. Trẻ em ở đó rất thuần phác, nụ cười rạng rỡ. Có một cô bé nắm tay tôi, nói: "Cô ơi, cô đẹp quá."
Tôi ngồi xổm xuống, xoa đầu bé: "Con cũng rất xinh đẹp."
Bé cười, để lộ hàm răng trắng muốt.
Phương Húc đứng bên cạnh nhìn, mắt hơi ươn ướt. Anh bước tới, khoác vai tôi: "Vợ à, chúng mình làm gì đó đi."
"Làm gì cơ?"
"Tài trợ cho những đứa trẻ này đi học," anh nói, "Để chúng có cơ hội bước ra khỏi vùng núi, ngắm nhìn thế giới bên ngoài."
Tôi nhìn anh, gật đầu: "Được."
Sau khi từ Tây Tạng trở về, chúng tôi thành lập một quỹ khuyến học, mỗi năm tài trợ cho mười học sinh nghèo đi học. Tuy số tiền không nhiều, nhưng có thể giúp đỡ được những đứa trẻ đó, chúng tôi cảm thấy rất vui.
Các con biết chuyện cũng rất ủng hộ. Niệm An nói: "Bố mẹ tuyệt quá, con tự hào về bố mẹ." Niệm Viễn nói: "Đợi con đi làm, con cũng sẽ tham gia quỹ của bố mẹ, cùng giúp đỡ nhiều người hơn nữa."