Rời khỏi Cục Văn vật, trời đã tối hẳn. Trần Trường Căn đi dọc theo con phố với ánh đèn đường lờ mờ về nhà, gió thu thổi những chiếc lá rụng trên mặt đất kêu xào xạc. Ông đang nghĩ về chuyến đi Nam Kinh của cụ cố. Ba trăm cân cá khô đó, rốt cuộc là hàng hóa dùng để ngụy trang thân phận, hay là vật mang theo ám hiệu nào đó? "Dụ Phong Thương Hành" kia lại có lai lịch thế nào?
Đang suy nghĩ, điện thoại trong túi ông lại reo. Lôi ra xem, là một số lạ, mã vùng là của Nam Kinh. Ông do dự một chút rồi vẫn bắt máy.
"Có phải sư phụ Trần không? Tôi là người Nam Kinh, họ Lý, là nhân viên của Thư viện lưu trữ thành phố. Chiều nay chúng tôi nhận được một yêu cầu tra c/ứu liên quan đến lô hồ sơ mà ông đã xem vào buổi chiều." Đầu dây bên kia là giọng một người đàn ông trẻ tuổi, "Tôi muốn x/ác nhận với ông một chút, có phải ông cũng đang tra về 'Dụ Phong Thương Hành' không?"
Lòng Trần Trường Căn chấn động: "Đúng vậy, tôi đang tra. Anh có manh mối gì không?"
"Chiều nay khi sắp xếp hồ sơ cũ, tôi tình cờ lật được một tập tài liệu đăng ký của 'Dụ Phong Thương Hành'. Thương hành đó đăng ký vào tháng 6 năm 1944, tên người đại diện pháp nhân là..." đối phương ngập ngừng một chút, "là Thẩm Bá An."
Trần Trường Căn sững sờ. Thẩm Bá An? Thương hành đó do Thẩm Bá An mở? Vậy việc cụ cố vận chuyển cá khô đến Nam Kinh, bên nhận hàng chính là thương hành của Thẩm Bá An, điều này chứng tỏ chuyến hải trình đó về bản chất là một cuộc gặp mặt. Họ đã chuyển giao thứ gì đó thông qua con tàu chở hàng.
"Thương hành đó sau này thế nào?" ông truy hỏi.
"Tháng 9 năm 1945 thì bị xóa đăng ký." đối phương nói, "Trong tài liệu đăng ký có một phần giải trình bổ sung, viết là 'Do người phụ trách b/ệnh mất, thương hành không thể tiếp tục kinh doanh'. Ngoài ra, trong hồ sơ còn có một danh mục tài sản khi đăng ký thương hành, trong đó đăng ký một chiếc 'La bàn hàng hải', ghi chú là 'Một món đồ cũ, dùng để sưu tầm'."
Sau khi cúp máy, Trần Trường Căn đứng dưới cột đèn đường ngẩn người hồi lâu. La bàn hàng hải. Ông chợt nhớ tới chiếc la bàn cũ được thờ trong khoang tàu của mình - chính là thứ mà cụ cố truyền lại. Ông luôn cho rằng đó chỉ là một món đồ cũ bình thường, chưa bao giờ để ý đến lai lịch của nó. Nếu trong danh mục tài sản của thương hành mà Thẩm Bá An đăng ký năm đó cũng có một món tương tự, liệu chiếc "la bàn hàng hải" đó có ẩn chứa bí mật gì không?
Ông rảo bước về nhà. Sau khi về đến nơi, ông đi thẳng đến khoang tàu nơi để chiếc la bàn. Con tàu đá/nh cá neo đậu ở bến tàu, ban đêm không có người trông coi, chỉ có vài ánh đèn đường rọi lên boong tàu. Ông lên tàu, mở khóa khoang tàu, nhìn thấy chiếc la bàn cũ vẫn nằm ở vị trí cũ, nằm lặng lẽ bên cạnh bàn thờ.
Ông cầm chiếc la bàn lên, mượn ánh đèn pin điện thoại soi kỹ. Dưới đáy vỏ đồng có một vòng khắc cực nhỏ mà trước đây ông chưa từng để ý. Những vết khắc đó trông như sự kết hợp giữa chữ số và chữ cái, ẩn hiện dưới ánh sáng. Ông tìm một miếng vải mềm lau sạch, các vết khắc trở nên rõ nét hơn. Đó là một chuỗi mã: "NJ4406SB". NJ có thể là viết tắt của Nam Kinh, 4406 là tháng 6 năm 1944, SB là viết tắt tên của Thẩm Bá An.
Chiếc la bàn này chính là món đồ cũ được đăng ký trong danh mục tài sản của Thẩm Bá An năm đó. Nó là tín vật liên lạc giữa Thẩm Bá An và Trần Vĩnh Xươ/ng.
Trần Trường Căn nắm ch/ặt chiếc la bàn, chợt cảm thấy mọi thứ đang dần được xâu chuỗi lại. Cụ cố, Thẩm Bá An, chiến dịch "Hải táng", chín chiếc hòm sắt, Trần Gia Uyên, Hải H/ồn Châu - những mảnh ghép rời rạc này đang dần dần ghép lại thành một bức tranh hoàn chỉnh.
Ông hít sâu một hơi, đặt la bàn về chỗ cũ. Gió đêm thổi qua từ mặt biển, mang theo vị mặn chát. Ánh đèn trên bến tàu đổ xuống mặt nước những bóng sáng lay động, như vô số mảnh vụn vàng đang chao đảo.
Ông quyết định ngày mai sẽ đi Nam Kinh một chuyến. Có những việc, chỉ dựa vào tra c/ứu hồ sơ thì không thể làm rõ, ông phải đích thân đến xem địa chỉ cũ của "Dụ Phong Thương Hành" đó, biết đâu có thể tìm thấy thêm manh mối.
Trở về nhà, bà Trương Quế Lan đã ngủ. Ông ngồi trong phòng khách một lúc, lấy nhật ký của cụ cố ra lật lại một lần nữa. Nét chữ của cụ cố trên những trang giấy ố vàng trông trầm ổn và mạnh mẽ, mỗi nét bút đều toát lên sự trang trọng của thời đại đó. Ông chợt cảm thấy bùi ngùi, hơn bảy mươi năm rồi, những lời cụ cố viết năm xưa, cuối cùng cũng được đọc hiểu lại ở thế hệ của ông.
Ông khép nhật ký lại, tắt đèn, ngồi lặng lẽ trong bóng tối một hồi. Ngoài cửa sổ có tiếng côn trùng thu kêu, âm thanh nhỏ vụn mà kéo dài.
Sáng sớm hôm sau, ông lên tàu cao tốc đi Nam Kinh. Phong cảnh ngoài cửa sổ từ đồng bằng ven biển dần dần chuyển thành đồi núi, những cánh đồng và ngôi làng lùi dần trong ánh nắng sớm. Ông tựa vào ghế, nắm ch/ặt tấm thẻ đồng, trong lòng nghĩ về chuyến hành trình truy tìm sắp tới.
Chương 7
Nam Kinh. Lá ngô đồng mùa thu rụng đầy, trải dài hai bên đường, giẫm lên nghe tiếng xào xạc. Trần Trường Căn theo địa chỉ lấy được từ thư viện lưu trữ, tìm đến một con ngõ tên là "Thái Bình Hạng" ở phía Nam thành cổ. Ngõ không rộng, hai bên là những ngôi nhà cổ gạch xanh ngói xám, trông có vẻ ít nhất cũng đã bảy tám mươi năm lịch sử.