Địa chỉ đăng ký năm xưa của "Dụ Phong Thương Hành" nằm ngay đoạn giữa con ngõ này. Trần Trường Căn đi tới nhìn, mặt tiền cửa hàng giờ đã được cải tạo thành một quán ăn vặt b/án bún huyết vịt, trước cửa treo tấm biển hiệu màu đỏ, trong quán tỏa ra mùi thơm nồng nàn. Ông đứng trước cửa nhìn vào, diện tích quán không lớn, chỉ cần một cái nhìn là thấy hết, bàn ghế bên trong được sắp xếp ngăn nắp, vài vị khách đang cắm cúi húp nước dùng.

Bà chủ quán là một người phụ nữ hơn năm mươi tuổi, đeo tạp dề, thấy Trần Trường Căn đứng trước cửa ngó nghiêng liền nhiệt tình chào mời: "Vào ngồi đi ông, làm bát bún cho ấm người!"

Trần Trường Căn bước vào, gọi một bát bún huyết vịt. Tranh thủ lúc đợi đồ ăn, ông quan sát cách bố trí trong quán. Từ cửa vào đến bức tường phía sau sâu khoảng mười mét, tường đã được quét vôi lại nên không nhìn ra cấu trúc cũ. Nhưng ông chú ý tới ở lối ra cửa sau của quán, có một chiếc cầu thang hẹp dẫn lên tầng hai.

"Chị ơi," ông hỏi, "Trên lầu là để ở hay làm gì vậy?"

Bà chủ vừa lau bàn vừa nói: "Trên lầu ngày trước là kho, sau đó bỏ trống nhiều năm, hai năm nay cho một người chuyên đóng khung tranh chữ thuê rồi, giờ dùng để chứa ít vật liệu thôi."

"Tôi lên xem thử được không?"

Bà chủ nhìn ông có vẻ lạ lùng nhưng vẫn gật đầu: "Ông cứ tự lên xem đi, cầu thang hơi dốc, cẩn thận chân cẳng nhé."

Trần Trường Căn theo chiếc cầu thang hẹp lên tầng hai. Trên lầu là một căn phòng rộng khoảng bốn, năm mươi mét vuông, bốn bức tường quét vôi trắng, có vài chiếc bàn dài đặt sát tường, trên bàn chất đầy giấy xuyến chỉ và khung tranh, trong góc còn dựng vài bức tranh cuộn. Ánh sáng trong phòng hơi tối, chỉ có một ô cửa sổ nhỏ nhìn ra phố hắt vào chút ánh nắng.

Ông đi tới bên cửa sổ, nhìn ra ngoài. Bậu cửa sổ phủ một lớp bụi, rõ ràng đã lâu không được quét dọn kỹ càng. Ông lần mò dọc mép bậu cửa, ngón tay chạm vào một rãnh lõm nông. Nhìn kỹ lại, đó là một vết khắc, hình th/ù giống một phần của biểu tượng nào đó. Ông lấy điện thoại ra bật đèn pin soi vào, vết khắc dưới ánh sáng hiện ra đường nét trọn vẹn - là một huy hiệu hình tròn, chính giữa là một con rồng cuộn quanh một thanh ki/ếm.

Giống hệt huy hiệu trong chiếc hòm sắt.

Tim ông đ/ập nhanh hơn. Nơi này quả nhiên có liên quan đến "Đông Hải Hộ Sản Hội". Ông ngồi xổm xuống, kiểm tra kỹ chỗ tiếp giáp giữa bậu cửa sổ và bức tường, phát hiện rìa của một viên gạch dường như lỏng lẻo hơn những viên xung quanh. Ông dùng ngón tay đẩy thử, viên gạch đó lại thụt vào trong một đoạn.

Ông hít sâu một hơi, nhẹ nhàng rút viên gạch đó ra. Phía sau viên gạch lộ ra một khoảng trống nhỏ tối om, thò tay vào thăm dò, ông chạm phải một vật cứng ngắc được bọc trong vải dầu. Ông cẩn thận lấy nó ra, mở vải dầu, bên trong là một chiếc hộp sắt nhỏ bằng bàn tay, hộp không khóa, chỉ được quấn bởi một sợi dây thép mảnh.

Ông gỡ dây thép, mở nắp hộp. Bên trong đặt một tờ giấy cũ đã gấp gọn, giấy đã ố vàng và giòn rụm, những nếp gấp đã hơi mòn. Ông cẩn thận mở tờ giấy ra, nhìn thấy một bức thư viết bằng bút mực. Nét chữ quen thuộc - đó là nét chữ của Thẩm Bá An.

Nội dung bức thư không dài nhưng lượng thông tin lại cực lớn. Thẩm Bá An viết trong thư: "Vĩnh Xươ/ng huynh, từ biệt ở Nam Kinh, không biết ngày nào mới gặp lại. Đệ đã liên lạc các bên, x/ác nhận bến tàu Kim Lăng vẫn còn chỗ neo đậu. Vật huynh gửi gắm, đệ đã sắp xếp ổn thỏa, đợi huynh quay về sẽ mang theo cùng. Còn một việc quan trọng cần báo: Gần đây có thương nhân kiều Nhật nhiều lần tới lui, muốn bỏ số tiền lớn m/ua bản đồ cũ vùng Đông Hải của đệ, nghe nói người Đông Doanh rất quan tâm tới Trần Gia Uyên, dường như không có ý tốt. Đệ đã khéo léo từ chối, nhưng sợ rằng họ không chịu bỏ cuộc. Huynh về tới Liên Vân nhất định phải cẩn thận, chúng đã tìm được tới chỗ đệ, cũng có thể tìm được tới chỗ huynh. Đệ Thẩm Bá An, tháng 3 năm 1945 tại Nam Kinh."

Trần Trường Căn nắm ch/ặt bức thư, ngón tay run nhẹ. Đây là lần đầu tiên ông nhìn thấy dấu vết liên lạc trực tiếp giữa Thẩm Bá An và cụ cố từ hiện vật thực tế. "Thương nhân kiều Nhật" được nhắc đến trong thư trùng khớp với người thương nhân nước ngoài thu thập cổ vật mà Đường Hoài Nhân đã nói, chứng tỏ từ mùa xuân năm 1945, đã có người hứng thú với Trần Gia Uyên. Còn câu "Vật huynh gửi gắm" của Thẩm Bá An, rất có thể chính là những vật tư liên quan đến chiến dịch "Hải táng".

Ông gấp bức thư lại như cũ, đặt vào trong hộp sắt, dùng vải dầu bọc lại rồi giấu vào trong ngựk. Sau đó ông nhét viên gạch trở lại vị trí cũ, lau sạch dấu vân tay trên bậu cửa sổ, x/ác nhận không để lại dấu vết gì mới quay người đi xuống lầu.

Dưới lầu, bà chủ đang tiếp khách, thấy ông xuống cũng không hỏi gì thêm. Trần Trường Căn trả tiền, bước ra khỏi quán ăn vặt, đứng trong con ngõ thở phào một hơi dài. Ánh nắng mùa thu chiếu trên con đường lát đ/á xanh, vài con chim bồ câu bay lên từ mái hiên, vỗ cánh lướt qua bầu trời.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Đồ chơi ghiền

Chương 13
Ta là gối ôm hình người yêu thích của bạo quân. Không có ta, hắn đêm nào cũng mất ngủ. Một ngày nọ, khi ta đang dẫm lên người hắn để sưởi ấm chân, đột nhiên lại nhìn thấy những dòng chữ kỳ lạ. [Pháo hôi đúng là biết ỷ sủng sinh kiêu thật đấy, bạo quân chẳng qua vì hắn hữu dụng mới dung túng như vậy thôi, đợi thụ xuất hiện chữa khỏi bệnh mất ngủ cho bạo quân là tên pháo hôi này phải bay màu rồi.] [Hơn nữa tính cách của bạo quân như vậy, làm sao có thể để người biết bí mật của mình ra khỏi cung được?] [Sắp rồi sắp rồi, đợi bạo quân đi Giang Nam sẽ tình cờ gặp thụ, cuối cùng cũng không phải ngày ngày nhìn pháo hôi ỷ sủng sinh kiêu nữa.] Nhìn thấy những dòng này, ta lặng lẽ thu chân của mình về: "Bệ hạ, nếu có người phát hiện ra bí mật của người, người sẽ làm thế nào?" Bạo quân lười biếng tựa vào đầu giường, vươn tay tóm lấy cổ chân ta kéo dẫm trở lại trên người hắn: "Tất nhiên là, khiến kẻ đó vĩnh viễn không thể cất lời."
685
5 Tuyết Đầu Mùa Chương 10
7 Dụ Dỗ Em Sa Ngã Chương 12
10 Thay anh kiếm tình Chương 10

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Ngư dân Giang Tô vớt được thùng sắt lớn ngoài khơi, vừa cắt mở, tất cả đều bàng hoàng

Chương 32
Thế nhưng, ở vài trang cuối của cuốn nhật ký, ông nội anh đã viết vài dòng bằng nét bút đậm và mạnh hơn, nét chữ nguệch ngoạc như thể để lại trong lúc vội vã: "Ngày mùng ba tháng bảy năm Giáp Ngọ, Đông Hải xuất hiện dị tượng, hòm sắt nổi trên mặt nước, ánh sáng tựa như cõi âm, ngư dân ai nấy đều kinh sợ, lánh đi không kịp."
Kinh dị
Kinh dị
0