Họ sánh bước bên nhau đi về nhà, dưới chân là con đường lát đ/á xanh quen thuộc đến không thể quen thuộc hơn. Mặt biển sau lưng trải rộng lặng lẽ trong màn đêm, như thể chứa đựng tất cả những chuyện cũ, cũng như đang chờ đợi một câu chuyện tiếp theo diễn ra.
Chương 12
Xuân đã thực sự đến rồi. Tại Liên Đảo cuối tháng Ba, gió biển thổi vào mặt đã không còn lạnh nữa, trên bến tàu người phơi lưới đá/nh cá đã đông đúc hơn, lũ trẻ cởi bỏ những bộ quần áo mùa đông dày cộm, chạy nhảy cười đùa thả diều trên đê chắn sóng. Trong sân nhà Trần Trường Căn, cây hòe già đã nảy những chồi non xanh biếc, nắng rọi trên mặt lá, sáng lấp lánh.
Bộ "Trần thị tông phổ" sau khi được cơ quan văn vật xử lý chuyên nghiệp đã trở về tay Trần Trường Căn. Ông đặt nó vào trong rương gỗ, để cùng với Hải H/ồn Châu, thẻ đồng và chìa khóa đồng. Mỗi tối ông đều mở rương ra xem một chút, không phải vì lo mất, chỉ là cảm thấy nhìn thấy chúng, lòng mới thấy an tâm.
Lâm Nhã gọi điện báo cho ông biết, di chỉ dưới nước của Trần Gia Uyên đã chính thức được liệt vào danh sách đơn vị bảo tồn văn vật cấp tỉnh, các công việc bảo tồn và nghiên c/ứu liên quan đang được tiến hành theo kế hoạch. Những vật tư và tài liệu trục vớt được từ trong hòm sắt, sau khi được sắp xếp, một phần sẽ được trưng bày chuyên đề tại Bảo tàng tỉnh, chủ đề mang tên "Hải cương thủ hộ - Đông Hải hộ sản hội và ký ức kháng chiến của người dân ven biển".
Lễ khai mạc triển lãm được ấn định vào giữa tháng Tư. Lâm Nhã mời Trần Trường Căn tham dự với tư cách khách mời đặc biệt, đồng thời hy vọng ông có thể đại diện gia tộc có một bài phát biểu ngắn gọn tại lễ khai mạc. Trần Trường Căn cân nhắc rồi đồng ý.
Ngày khai mạc, trong phòng triển lãm của Bảo tàng tỉnh người đông như hội. Triển lãm được bài trí trang trọng mà mộc mạc, trong tủ kính trưng bày một số vật phẩm trục vớt được từ hòm sắt - chiếc áo bông cũ thêu dòng chữ "Lâm biệt tặng y", vài cuốn nhật ký hàng hải ố vàng, một chiếc kính lục phân hoen rỉ, và một bức ảnh cũ của con tàu buồm gỗ "Hải An". Ở giữa phòng triển lãm thiết lập một khu vực riêng biệt, sử dụng các tấm bảng trưng bày khổ lớn để giới thiệu quá trình của chiến dịch "Hải táng", bên cạnh là các tư liệu hình ảnh về khảo cổ dưới nước.
Trần Trường Căn đứng trong phòng triển lãm, nhìn những vật dụng quen thuộc được bày biện tỉ mỉ trong tủ kính, ánh đèn dịu dàng rọi lên chúng. Ông có một cảm giác choáng ngợp kỳ lạ - những chiếc hòm sắt từng chìm dưới đáy biển tối tăm này, giờ đây đang nằm trong phòng triển lãm sáng sủa, được những người qua lại nhìn ngắm, kể lại câu chuyện của hơn bảy mươi năm trước.
Tại lễ khai mạc, người dẫn chương trình giới thiệu ông. Ông bước lên bục, phía dưới ngồi rất nhiều người, có nhân viên văn vật, học giả, phóng viên và không ít người dân bình thường. Ông đứng trước micro, trong tay không cầm bản thảo, chỉ nhìn những gương mặt đang chăm chú nhìn mình, im lặng hai ba giây rồi bắt đầu nói.
"Tôi tên là Trần Trường Căn, là một người đá/nh cá." Ông mở lời, giọng không cao nhưng trong phòng triển lãm yên tĩnh lại tỏ ra vô cùng rõ ràng, "Mùa hè năm ngoái tôi ra khơi đá/nh cá, vớt được chín cái hòm sắt. Lúc đó tôi không biết đó là gì, sau này tôi mới biết, đó là những thứ mà thế hệ cụ cố tôi thời chiến tranh chống Nhật, vì muốn bảo vệ tài sản của đất nước mình mà lặng lẽ dìm xuống đáy biển."
Ông kể một cách mộc mạc, không chút tô vẽ, nhưng tất cả mọi người bên dưới đều lặng lẽ lắng nghe. Ông kể về cuốn nhật ký cụ cố để lại, kể về bức thư của Thẩm Bá An, kể về tấm thẻ đồng và chiếc chìa khóa đồng đó, kể về trải nghiệm chính mình lặn xuống đáy biển tìm thấy Hải H/ồn Châu và Trần thị tông phổ. Cuối cùng ông nói: "Cả đời tôi không đọc được mấy chữ, nhưng tôi biết một điều - những thứ mà cụ cố tôi và các bậc tiền bối bảo vệ, không chỉ là tài sản riêng của nhà họ Trần, mà là ký ức của vùng biển này, của đất nước này. Tôi hy vọng những thứ này có thể để nhiều người hơn nhìn thấy, ghi nhớ đoạn lịch sử đó, ghi nhớ những người không màng danh lợi, lặng lẽ bảo vệ vùng biển này."
Sau khi ông kể xong, tràng pháo tay bên dưới vang lên rất lâu. Ông đứng trên bục, đối mặt với những tràng pháo tay đó, hơi cúi người xem như đáp lễ rồi bước xuống bục.
Chiều hôm đó, khán giả đến xem triển lãm nườm nượp, không ít người dừng chân ngắm nhìn bức ảnh cũ chụp chung của Trần Vĩnh Xươ/ng và Thẩm Bá An. Trần Trường Căn không ở lại phòng triển lãm, ông một mình bước ra khỏi bảo tàng, đứng trên bậc thềm cửa, nhìn con phố đầy nắng ngoài kia, hít một hơi thật sâu bầu không khí trong lành của mùa xuân.
Ông lấy điện thoại ra, lật lại bức ảnh chụp chung của cụ cố và Thẩm Bá An để xem. Trong ảnh, hai người thanh niên đứng sánh vai trên mũi con tàu năm nào, nắng rọi lên người họ, mọi thứ đều bình thản và đầy hy vọng. Trần Trường Căn cất điện thoại, bước xuống bậc thềm, hòa vào dòng người trên phố.
Những ngày sau khi trở về Liên Đảo, cuộc sống trôi qua thật thư thái và dễ chịu. Trần Trường Căn mỗi sáng ra bến tàu tản bộ, trò chuyện cùng hàng xóm, thỉnh thoảng ra trấn m/ua ít rau và đồ dùng hàng ngày. Cuộc sống của ông quay lại nhịp điệu của một lão ngư dân bình thường, nhưng trong cái bình thường đó, lại thêm một sự lắng đọng và thỏa mãn mà trước đây chưa từng có.