Một buổi chiều tối, ông ngồi trong sân, lật xem lại cuốn "Trần thị tông phổ" từ đầu đến cuối một lần nữa. Những cái tên và sự tích trong cuốn gia phả khiến ông không ngừng tưởng tượng về cuộc sống của tổ tiên trên dải bờ biển này - họ đá/nh cá, chạy tàu, kháng cự giặc Oa, bảo vệ quê hương, truyền đời này sang đời khác cho đến tận hôm nay. Ông dùng chính tên mình viết lại những trải nghiệm và phát hiện của mấy năm qua vào gia phả, nét chữ xiêu vẹo, không ngay ngắn, nhưng từng nét từng chữ đều vô cùng nghiêm túc.
Viết xong, ông khép cuốn gia phả lại, đặt vào trong rương gỗ, để cùng với mấy món gia bảo khác. Ông cúi đầu nhìn những món đồ đó, tấm thẻ đồng tỏa ra ánh sắc đồng dịu nhẹ dưới ánh đèn, Hải H/ồn Châu trong hộp ngọc lặng lẽ phát ra ánh sáng mờ ảo, những răng c/ưa trên chiếc chìa khóa đồng vẫn còn rõ nét. Chúng nằm im lìm trong rương gỗ, như thể cùng nhau bảo vệ một khoảng thời gian dài đằng đẵng.
Ông đóng nắp rương, khóa lại. Ngẩng đầu nhìn lên, bầu trời đêm ngoài cửa sổ đã tối hẳn, những vì sao lấp lánh từng ngôi một, từ xa vọng lại tiếng sóng biển vỗ vào rạn đ/á, du dương mà an ổn.
Trần Trường Căn đứng bên cửa sổ một lát rồi xoay người bước ra sân. Gió biển ập đến, mang theo hơi ẩm và cái se lạnh đặc trưng của mùa xuân. Ông đứng dưới gốc cây hòe già, nhìn mặt biển lấp lánh ánh bạc trong màn đêm, lòng bình lặng như tờ.
Thời gian trôi đi trong vô thức. Mùa hè của cảng cá Liên Đảo lại đến, tần suất tàu thuyền ra vào cảng còn cao hơn cả mùa xuân, mùa đá/nh bắt chính đã bắt đầu. Con tàu của Trần Trường Căn cũng đã hạ thủy trở lại, Trần Hải Sinh dẫn theo vài người phụ giúp ra khơi đá/nh cá, thỉnh thoảng đầy khoang trở về, thỉnh thoảng lại trắng tay, đó đều là những ngày tháng bình thường của người ngư dân. Trần Trường Căn không còn đích thân ra khơi nữa, nhưng ngày nào ông cũng ra bến tàu xem thuyền, nghe Trần Hải Sinh kể chuyện trên biển, cảm thấy những con sóng gió và mùa cá đó cũng chẳng khác gì lúc ông còn là một ngư dân trẻ tuổi.
Một buổi chiều hè, Trần Trường Căn ngồi trên bậc đ/á bên bến tàu, trước mặt đặt một chén trà pha đậm đặc. Nắng gay gắt rọi trên mặt biển, hơi nước bốc lên, đằng xa có vài con cò trắng đang dạo bước trên bãi cạn tìm mồi. Một thanh niên đi tới, ngồi xuống bên cạnh ông, đó là Triệu Nhất Chu. Nghỉ hè cậu lại đến Liên Đảo ký họa, lần này vẽ một loạt tranh sơn dầu với chủ đề bến cảng.
"Ông Trần," Triệu Nhất Chu đưa một bức tranh sơn dầu mới vẽ cho ông xem, "Bức này cháu vẽ con tàu đá/nh cá nhà ông, cháu đặt tên là 'Về Cảng'. Ông thấy thế nào?"
Trần Trường Căn nhìn bức tranh. Trên mặt tranh, một con tàu đá/nh cá cũ lặng lẽ neo đậu bên bến tàu trong bóng chiều tà, dây cáp buông lơi, mặt biển được ánh hoàng hôn nhuộm thành một quầng sáng màu cam ấm áp, thân tàu đổ bóng dài. Tranh vẽ tinh tế mà ấm áp, toát lên một vẻ tĩnh lặng khó tả.
"Vẽ đẹp lắm." Trần Trường Căn nói, giọng điệu giản đơn nhưng chân thành.
Triệu Nhất Chu cười: "Để cháu đóng khung xong, cháu tặng ông một bức."
Trần Trường Căn gật đầu, bưng chén trà lên nhấp một ngụm. Sau vị đắng của trà là một chút dư vị ngọt hậu đọng lại trong miệng.
Ông nhìn về phía chân trời xa xăm, nơi đường chân trời mờ nhạt, mảnh mai nhẹ nhàng ngăn cách làn nước biển xanh thẳm và bầu trời xanh nhạt. Ông nghĩ, đường chân trời mà cụ cố ngày xưa đứng trên tàu nhìn thấy, hẳn cũng chính là đường chân trời này. Người nhà họ Trần suốt mấy trăm năm qua, đứng bên bờ biển này nhìn thấy, cũng đều là cùng một đường chân trời ấy.
Đó là một đường thẳng chưa bao giờ thay đổi, kết nối biển và trời, quá khứ và hiện tại, sự bảo vệ và lời hứa lại với nhau.
Gió biển khẽ thổi qua, làm lay động mái tóc hoa râm của ông. Ông ngồi đó, uống trà, ngắm biển, lòng an yên như thể cả đại dương đang khẽ khàng trò chuyện cùng ông.