“Có phải bố con không? Ông ấy mất sớm, không kịp chứng kiến.” Nước mắt tôi chực trào trong hốc mắt, nhưng tôi nhất quyết không để nó rơi xuống, “Có phải nhà thông gia không? Họ cho con được miếng cơm hay đóng cho con được một kỳ học phí? Hôm nay họ ngồi đó, ăn món th!t muối mẹ làm, ngủ trong căn nhà mẹ m/ua, sai khiến đứa con trai mẹ dứt ruột đẻ ra, rồi còn bắt mẹ đứng bên tường nhìn sắc mặt họ.”
“Mẹ…” Giọng Trương Hạo dịu xuống.
“Con không cần gọi mẹ.” Tôi xua tay, “Hôm nay mẹ đến đây, chỉ nghĩ là mẹ con mình có thể đoàn viên đón một cái Tết. Mẹ nghĩ ba năm con kết hôn, năm nào mẹ cũng đón Tết một mình, năm nay cuối cùng cũng có thể ăn một bữa cơm tất niên cùng con trai.”
Nói đến đây, giọng tôi nghẹn lại.
“Nhưng con không cho mẹ ăn một miếng cơm, không cho mẹ uống một ngụm nước, việc đầu tiên là bắt mẹ ‘chịu khó chen chúc một chút’, rồi lại bảo mẹ ‘đừng làm mọi người khó xử’. Hạo Hạo, con đem hết thảy sự tử tế, thể diện dành cho người ngoài. Còn mẹ, con đã bao giờ nghĩ rằng mẹ cũng cần thể diện không?”
Nói xong câu đó, tôi quay người, sải bước đi về phía thang máy.
Tôi không khóc.
Nước mắt xoay vòng trong hốc mắt vài vòng, cuối cùng vẫn không rơi xuống. Có lẽ vì tim đã quá lạnh, lạnh đến mức nước mắt cũng đóng băng.
Thang máy đến. Tôi bước vào, nhấn nút tầng một.
Cửa thang máy đóng lại từ từ, lần cuối cùng tôi nhìn thấy Trương Hạo đứng ở cửa, như thể bị đóng băng tại chỗ, không nhúc nhích. Ánh sáng ấm áp sau lưng nó lọt qua khe cửa, như một dòng sông vàng óng, chảy từ gót chân tôi về phía xa xăm.
Bên kia dòng sông là sự đoàn viên của người khác.
Bên này dòng sông là mùa đông lạnh giá của riêng mình tôi.
Thang máy đi xuống, cảm giác mất trọng lực khiến dạ dày tôi nhộn nhạo. Tôi dựa vào vách thang máy, thở dốc từng hơi. Hai cái bao tải dứa trên tay trượt xuống đất, tôi ngồi thụp xuống, nhưng cuối cùng vẫn không để bản thân gục ngã hoàn toàn.
Không được gục.
Mình không được gục.
Gục xuống rồi, thì chỉ càng bị người ta coi thường hơn mà thôi.
Thang máy đến tầng một, cửa mở. Tôi xách túi lên, bước ra ngoài. Những chiếc đèn lồng đỏ trong khu chung cư vẫn sáng, từng chuỗi từng chuỗi, đỏ rực đến chói mắt. Mấy đứa trẻ đang đ/ốt pháo hoa nhỏ ở bãi đất trống phía trước, những tia lửa b/ắn tung tóe, phản chiếu trên khuôn mặt nhỏ nhắn của chúng, lấp lánh chập chờn.
Tôi vòng qua chúng, đi ra ngoài cổng lớn.
Gió thổi qua, lạnh buốt, như lưỡi d/ao cứa vào mặt. Tôi thắt ch/ặt khăn quàng cổ, che kín lấy cổ mình.
Đi được vài bước, tôi bỗng dừng lại, ngoái đầu nhìn cửa sổ tầng chín vẫn đang sáng đèn.
Ánh sáng vàng ấm áp ấy, gần đến thế, mà cũng xa xôi đến thế.
Tôi khẽ nói: “Trương Hạo, cả đời của mẹ, thế là đủ rồi. Cũng đáng rồi.”
Sau đó, tôi quay người bước vào màn đêm.
Thứ thực sự khiến lòng người lạnh giá chưa bao giờ là căn nhà bị chiếm, mà là đứa con mình dốc cả nửa đời nuôi nấng, đã sớm quên mất cội nguồn.
Từ tầng chín xuống tầng một, trong thang máy chỉ có mình tôi.
Trên vách thang máy có gắn một tấm gương dài và hẹp, phản chiếu khuôn mặt tôi - tóc tai hơi rối, vài sợi tóc bạc lòa xòa sau tai, dính ch/ặt vào cái cổ đẫm mồ hôi. Chiếc áo phao màu đỏ thẫm nhăn nhúm, trên vai còn dính đầy bụi bẩn không biết từ đâu ra.
Tôi nhìn vào gương, đưa tay vuốt lại tóc, rồi chỉnh lại cổ áo.
Cả đời này, tôi chưa bao giờ làm mất thể diện trước mặt người khác. Hôm nay cũng vậy.
Thang máy dừng lại. Cửa mở, gió lạnh bên ngoài ùa vào, tôi rùng mình, cúi người xách hai cái bao tải lên. Chiếc túi nặng như chứa đầy chì, siết ch/ặt mười đầu ngón tay đến trắng bệch. Nhưng tôi cắn ch/ặt răng, từng bước từng bước bước ra khỏi tòa nhà.
Khu chung cư giăng đèn kết hoa. Những chiếc đèn lồng đỏ treo thành hàng, như hai con rồng lửa uốn lượn hai bên đường. Những bụi cây xanh dưới lầu được quấn những dải đèn nháy vàng kim, chớp tắt liên hồi, soi sáng những chiếc lá đông thanh xanh mướt. Có vài đứa trẻ đang đ/ốt pháo hoa nhỏ ở bãi đất trống phía trước, những tia lửa nhỏ li ti b/ắn ra từ tay chúng, như rắc những mảnh sao vỡ xuống mặt đất. Những người lớn bên cạnh giơ điện thoại lên chụp ảnh, tiếng cười nói vang lên hết đợt này đến đợt khác.
Tôi cúi đầu, đi lướt qua họ.
Không một ai chú ý đến tôi. Một bà lão xách hai cái bao tải dứa, trong khu chung cư tràn ngập hương vị Tết này, trông như một hạt bụi bị gió thổi tan tác.
Khi đến cổng khu chung cư, người bảo vệ mở cửa cho tôi lúc nãy vẫn còn đó. Thấy tôi, ông ta nhận ra ngay, có chút kinh ngạc: “Cô ơi, đi nhanh thế ạ? Không ăn cơm tất niên rồi mới về sao?”
Tôi dừng bước, mỉm cười với ông ấy: “Ăn rồi.”
“Thế sao còn xách nhiều đồ thế này? Không phải là mang cho con trai sao?” Ông ta nhìn tôi một cái, rồi lại nhìn hai cái túi căng phồng kia.
Tôi cúi đầu nhìn túi đồ, rồi lại ngẩng đầu nhìn ông ta, cười nói: “Nó bảo không dùng đến, bảo tôi mang về trước.”
Người bảo vệ “ồ” một tiếng, miệng mấp máy như muốn nói gì đó, cuối cùng chỉ thở dài: “Vậy cô đi cẩn thận, trời lạnh đường trơn.”
“Cảm ơn ông.” Tôi gật đầu với ông ấy rồi bước ra khỏi cổng.
“Ăn rồi.”
Ba chữ này là lời nói dối lớn nhất mà tôi từng nói trong đời.
Nhưng tôi buộc phải nói. Một người làm mẹ, không thể nói trước mặt người ngoài rằng: “Con trai tôi không cho tôi ăn cơm, đuổi tôi ra ngoài.”
Lời như thế, thứ mất mặt không phải là tôi, mà là Trương Hạo.