Trong số các trang tài liệu, có một trang ghi tên Triệu Chí Viễn, bên cạnh là một dòng chú thích viết tay bằng nét chữ của mẹ chồng: "Người này đã qua tay 47 danh sách giả, liên quan đến số tiền 3,2 triệu tệ. Trong đó 2,73 triệu tệ chảy vào tài khoản nước ngoài, số còn lại không rõ tung tích. Triệu khai không biết gì, nhưng chủ động hoàn trả 80.000 tệ thu nhập cá nhân. Đã lưu hồ sơ."
"Chủ động hoàn trả 80.000 tệ thu nhập cá nhân." Dòng chữ này khiến tôi khựng lại. Một người tham gia làm giả giấy tờ, tại sao sau khi sự việc bại lộ lại chủ động trả tiền? Nếu ông ta là chủ mưu, ông ta sẽ không trả. Nếu ông ta chỉ là kẻ bị lợi dụng, liệu ông ta trả tiền là để chuộc tội, hay để tự bảo vệ mình?
Mẹ chồng dường như nhận ra tôi đang xem gì, bà quay đầu lại: "Số tiền 80.000 tệ mà Triệu Chí Viễn trả lại năm đó là tiền ông ấy chắt chiu từ lương. Vợ ông ấy lúc đó bị b/ệnh, gia cảnh thực ra rất khó khăn. Nhưng ông ấy vẫn trả, không thiếu một xu."
"Vậy nên năm đó mẹ không truy c/ứu ông ấy."
"Mẹ đã truy c/ứu tất cả mọi người, chỉ trừ ông ấy." Mẹ chồng chuyển ánh mắt về phía cửa sổ: "Vì sau khi trả tiền, ông ấy đã viết cho mẹ một lá thư. Trong thư chỉ có một câu: 'Cô Chu, con gái tôi cũng đang học đại học, tôi không muốn nó biết bố nó là người như thế nào.' Lá thư đó mẹ vẫn giữ đến tận bây giờ."
Ngoài cửa sổ là cánh đồng tháng Năm, lúa đã chín vàng, từng đợt sóng lúa cuộn trào trong gió. Giọng mẹ chồng rất nhẹ, gần như bị tiếng gầm rú của tàu cao tốc lấn át: "Tiểu Duyệt, con nói xem, một người làm sai việc, nhưng lại sẵn sàng dùng cả đời để bù đắp, liệu có nên cho ông ấy một cơ hội không?"
Tôi không trả lời. Vì tôi biết, người mẹ chồng đang hỏi không phải là Triệu Chí Viễn. Bà đang hỏi chính bản thân mình.
Tàu cao tốc lao vun vút về phía Nam, cảnh vật ngoài cửa sổ từ đồng bằng chuyển thành đồi núi, rồi từ đồi núi chuyển thành miền sông nước. Năm tiếng sau, chúng tôi đứng tại khu phố cổ của thành phố Lâm Hải. Địa chỉ của Triệu Chí Viễn nằm trong một con ngõ nhỏ tên là "Ngõ Thợ Rèn", con ngõ hẹp đến mức chỉ vừa một chiếc xe ba bánh, hai bên là những bức tường gạch loang lổ và hoa đăng tiêu leo kín.
Mẹ chồng đứng ở đầu ngõ, chỉnh lại cổ áo, hít một hơi thật sâu.
"Đi thôi." Bà nói.
Số 27 Ngõ Thợ Rèn. Một cánh cửa gỗ sơn đỏ đã phai màu, trên cửa dán một cặp câu đối Tết đã bạc trắng. Mẹ chồng giơ tay gõ cửa, gõ ba tiếng. Trong nhà không có động tĩnh gì. Bà lại gõ thêm ba tiếng nữa.
Cửa mở.
Người mở cửa là một phụ nữ hơn sáu mươi tuổi, tóc đã điểm bạc, mặc chiếc áo vải hoa, thắt tạp dề ngang hông. Bà ấy nhìn mẹ chồng, sững người một lúc, rồi ánh mắt chuyển sang mặt tôi, rồi lại sang Chu Viễn. Cuối cùng, bà nhìn vào mẩu giấy trong tay mẹ chồng.
"Các người tìm ai?" Giọng bà ấy mang âm hưởng phương Nam đặc trưng.
"Tìm Triệu Chí Viễn." Mẹ chồng nói: "Tôi là Chu Minh Huệ, đồng nghiệp cũ của ông ấy."
Sắc mặt người phụ nữ thay đổi. Sự thay đổi đó rất nhỏ, giống như mặt nước bị gió thổi khẽ, rồi lập tức tĩnh lặng trở lại. Nhưng những ngón tay nắm lấy khung cửa của bà ấy siết ch/ặt lại.
"Ông ấy không có nhà." Bà nói.
"Vậy chúng tôi sẽ đợi." Mẹ chồng nói: "Đợi đến khi ông ấy về."
Người phụ nữ im lặng. Có làn gió thổi qua ngõ, lay động những dây leo hoa đăng tiêu trên tường, những bông hoa đỏ đung đưa trong ánh hoàng hôn. Một lúc lâu sau, người phụ nữ nghiêng người tránh sang một bên.
"Vào đi." Bà ấy nói: "Ông ấy ở sân sau."
Chúng tôi đi qua phòng trước, băng qua một cái giếng trời dài hẹp, trong giếng trồng một cây lựu, mùa hoa vừa qua, trên cành treo những quả nhỏ màu xanh. Sân sau rất nhỏ, dựa vào tường dựng một cái lều tạm, dưới lều có một ông lão đang ngồi, lưng khom xuống, tay đang đan một chiếc giỏ bằng nan tre. Đôi tay ông rất thô ráp, các đ/ốt ngón tay to lớn, nhưng động tác lại linh hoạt, những nan tre đan xen dưới tay ông thoăn thoắt.
Ông ngẩng đầu nhìn chúng tôi, động tác dừng lại.
Triệu Chí Viễn già hơn tôi tưởng. Ông trông ít nhất phải bảy mươi lăm tuổi, tóc gần như bạc trắng, những nếp nhăn trên mặt sâu hoắm như vết d/ao khắc. Nhưng điều khiến tôi chú ý nhất chính là đôi mắt ông--vẩn đục, nhưng lại có một vẻ tĩnh lặng kỳ lạ.
"Minh Huệ." Ông nói. Giọng khàn đặc như đã lâu không mở lời.
"Chí Viễn." Mẹ chồng gật đầu: "Lâu rồi không gặp."
Triệu Chí Viễn đặt nan tre xuống, từ từ đứng dậy. Chân phải của ông có vẻ không ổn, động tác đứng dậy rất khó khăn. Người phụ nữ định đỡ ông, ông xua tay, tự mình đứng vững.
"Cái gì đến rồi cũng sẽ đến." Ông nói: "Tôi đợi ngày này, đợi suốt ba mươi năm rồi."
Ông quay người đi vào trong nhà, buông một câu: "Vào ngồi đi. Trà pha xong rồi."
Tôi nhìn mẹ chồng. Đôi môi bà khẽ run lên, nhưng nhanh chóng lấy lại vẻ bình tĩnh. Bà bước theo vào, tôi và Chu Viễn nối gót phía sau. Chu Viễn lặng lẽ nắm ch/ặt tay tôi, lòng bàn tay anh ướt đẫm mồ hôi.
Trong nhà rất tối, chỉ có một ô cửa sổ nhỏ hướng Bắc hắt chút ánh sáng vào. Triệu Chí Viễn ngồi xuống chiếc ghế sofa cũ dựa tường, người phụ nữ bưng ra một bình trà và vài chiếc chén sứ thô. Triệu Chí Viễn rót cho mỗi người một chén, nước trà màu rất đậm, mang theo hương vị của năm tháng.
"Cô Thẩm khỏe không?" Ông hỏi.
Mẹ chồng gật đầu: "Không tốt lắm. Tim bà ấy sắp không trụ nổi nữa rồi."