Thời gian trôi qua, cụ bà cũng dần trút bỏ vẻ dè dặt. Một tối nọ, khi tôi mang cơm sang, cụ đang ngồi trên ghế mây xem một cuốn album đã ố vàng. Cụ chỉ vào một bức ảnh trong đó và nói: "Tiểu Thục, con xem này, đây là ta năm bốn mươi tuổi, được xưởng bình chọn là lao động tiên tiến, thưởng cho một cái ca tráng men." Trong ảnh, cụ mặc bộ đồ công nhân màu xanh xám, tóc ngắn vén sau tai, trông vô cùng có khí thế. Cụ ngước nhìn tôi, giọng điệu xen lẫn chút tự hào: "Hồi đó, một ngày ta có thể kh//âu được mười hai đôi găng tay, đứng đầu cả phân xưởng đấy."
Tôi cười bảo: "Thời trẻ chắc chắn bà Tôn rất giỏi giang."
Cụ lắc đầu: "Giỏi giang gì đâu, chẳng qua là không muốn để người ta coi thường mình thôi."
Ánh mắt cụ dừng lại trên cuốn album một lúc, khẽ thở dài rồi khép sách lại, đặt dưới gối.
Đêm đó lúc tôi ra về, cụ gọi tôi lại, đưa cho một túi vải nhỏ. Tôi mở ra xem, bên trong là một đôi găng tay len màu xanh đậm, đan rất dày dặn.
"Vừa mới đan xong." Cụ hơi ngượng ngùng, "Con đi làm bằng xe máy vào buổi sáng, tay sẽ lạnh."
Tôi đeo thử, vừa vặn vô cùng. Cụ ngước nhìn tôi, đôi mắt cười cong cong như hai mảnh trăng khuyết.
Khoảnh khắc đó, chút hơi ấm trong căn phòng của cụ cứ thế lặng lẽ lan tỏa.
Những sự dịu dàng nhỏ bé cứ thế ngày qua ngày, dần dần làm tan chảy sự cô đ/ộc và lạnh lẽo suốt nửa đời người của cụ.
Khi một người kiên trì làm một việc không có hồi đáp, điều mà người ngoài nghĩ đến đầu tiên thường không phải là sự tán dương, mà là sự nghi ngờ.
Năm thứ hai tôi chăm sóc bà Tôn, những lời đàm tiếu bắt đầu xuất hiện. Đầu tiên là ở chợ, vài người b/án hàng quen thuộc nửa đùa nửa thật hỏi tôi: "Chị Trần, ngày nào cũng thấy chị m/ua thức ăn cho bà lão, có phải cụ trả lương cho chị không?" Tôi cười không đáp. Sau đó chuyện càng lúc càng đi xa, có người bảo tôi nhắm vào căn nhà của cụ, có người bảo tôi nhân cơ hội chiếm đoạt tiền tiết kiệm của cụ, thậm chí có người còn đồn rằng tôi muốn ép cụ lập di chúc để lại tài sản cho mình.
Một nửa trong số những lời này là do ông chú Chu truyền đi. Ông ta không biết đã thêu dệt bao nhiêu phiên bản tại bàn cờ dưới chung cư, trong mỗi phiên bản, tôi đều là kẻ "tính toán" đầy mưu đồ. Có một lần tôi tình cờ đi ngang qua, ông Chu đang say sưa kể chuyện, mấy ông lão bên cạnh nghe đến mê mẩn. Thấy tôi đến, ông ta khựng lại, giả vờ cúi đầu nghịch quân cờ. Tôi bước tới, đặt túi thức ăn vừa m/ua trước mặt ông ta: "Chú Chu, nếu chú rảnh, nhờ chú mang túi đồ này lên cho bà Tôn giúp cháu. Tiện thể vào uống chén nước, xem trong nhà cụ rốt cuộc có thứ gì đáng giá."
Mặt ông Chu đỏ bừng, không thốt nên lời. Kể từ đó, ông ta không bao giờ nói x/ấu tôi trước mặt nữa, nhưng những lời sau lưng thì chưa bao giờ dứt.
Điều khó khăn hơn là từ phía gia đình. Chồng tôi, Kiến Quốc, ban đầu không hề phản đối việc tôi chăm sóc cụ, nhưng thời gian lâu dần, anh ấy cũng không vui. Một lần, tôi đi làm về ghé qua đưa th/uốc cho bà Tôn, về nhà muộn hơn bình thường hai tiếng. Kiến Quốc ngồi trên ghế sofa, cơm đã nguội, con gái thì nằm bò trên bàn làm bài tập. Anh ấy không nhìn tôi, lạnh lùng nói: "Trần Thục, cô là gì của bà ấy vậy? Bố mẹ đẻ của cô, tôi cũng chưa thấy cô tận tâm như thế bao giờ."
Bước chân tôi khựng lại. Câu nói này của anh ấy đ/âm trúng tim đen của tôi. Bố mẹ tôi sống ở quê, tôi quả thực rất ít khi về, quanh năm suốt tháng chỉ chạy về đôi ba lần vào dịp lễ tết. Bị anh ấy nói như vậy, trong lòng tôi cũng thấy chột dạ. Nhưng tôi không nổi gi/ận, chỉ lầm lũi đáp: "Bố mẹ em đã có em trai lo liệu rồi, còn bà Tôn thì chẳng có ai."
Kiến Quốc ngẩng đầu lên, vành mắt đỏ hoe: "Tôi không phải không cho cô chăm sóc. Nhưng cô nhìn lại mình xem, giờ cô còn bao nhiêu thời gian dành cho gia đình? Đã ngồi kèm con gái học bài chưa? Nhà hết gạo cô có biết không?"
Ngày hôm đó chúng tôi không cãi vã lớn, nhưng chiến tranh lạnh suốt ba ngày. Trong ba ngày đó, tôi vẫn mang cơm cho bà Tôn như thường lệ. Kiến Quốc không ngăn cản, cũng không nói thêm lời nào. Cho đến ngày thứ tư, bà Tôn bưng bát chè ngân nhĩ tự hầm, gõ cửa nhà tôi. Kiến Quốc ra mở cửa, cụ đưa bát chè cho anh ấy và nói: "Kiến Quốc à, Trần Thục là người tốt, cháu đã lấy được một người vợ tốt. Nó giúp đỡ bà lão cô đ/ộc này là việc tích đức, cháu có trách thì trách bà đây này, đừng trách nó." Nói đoạn, cụ bà cúi người hành lễ.
Kiến Quốc lập tức đỏ hoe mắt, đỡ lấy cụ không cho cụ cúi người. Tối hôm đó, anh ấy chủ động bảo tôi: "Sau này nếu em bận không xuể, anh sẽ giúp một tay."
Sự thấu hiểu của gia đình đến rất chậm, nhưng cuối cùng cũng đã đến. Còn cái miệng của hàng xóm thì không dễ quản lý như vậy. Có lần, chủ nhiệm cộng đồng tìm đến tôi, ngập ngừng không nói nên lời. Tôi hỏi thẳng: "Có phải ông cũng nghe thấy lời đồn gì không?" Ông ấy do dự một chút rồi nói: "Có người bảo cô có thể đã lấy tiền của bà lão, chúng tôi định x/ác minh lại một chút." Tôi cười, mở sổ thu chi trong điện thoại cho ông ấy xem: "Mười hai năm qua, mỗi một khoản chi tiêu tôi đều ghi chép lại. M/ua thức ăn, m/ua th/uốc, viện phí, không thiếu một xu. Ông có muốn đối chiếu không?" Ông ấy liên tục xua tay, gương mặt lộ vẻ ngượng ngùng.