Cũng đã chậm trễ bấy lâu nay.
Trên đỉnh sườn núi có một cây hoa quế rất lớn.
Cành lá rủ xuống như một chiếc ô.
Đất dưới gốc cây rất mềm.
Tôi ngồi xổm xuống, dùng chiếc xẻng nhỏ mượn của dì La để đào đất.
Một xẻng.
Lại một xẻng.
Đất bùn dính vào kẽ ngón tay.
Nhưng tôi lại chẳng thấy bẩn chút nào.
Khi đặt chiếc hộp xuống, tôi cuối cùng không nhịn được nữa, nước mắt trào ra.
“Đậu Đậu.”
Giọng tôi khàn đặc.
“Ở đây rất tốt.”
“Có hoa, có gió.”
“Sau này không ai nh/ốt em ở ngoài ban công nữa.”
“Cũng không ai bắt em phải dầm mưa nữa.”
Tôi dùng tay vun đất lấp lại từng chút một.
Cuối cùng đặt chiếc vòng cổ nhỏ có treo cái chuông của nó lên trên.
Cái chuông đã không còn kêu nữa.
Giống như nó sẽ chẳng bao giờ vẫy đuôi chạy về phía tôi nữa.
Tôi ngồi dưới gốc cây rất lâu.
Từ sáng đến tận chiều.
Ánh nắng xuyên qua kẽ lá rơi trên người tôi.
Gió thổi qua, hoa quế rơi đầy trên vai.
Tôi chợt nhớ đến Phó Diễn Chi.
Nhớ đến ngày hôn lễ đó, có lẽ anh ta đang tìm tôi giữa muôn vàn khách khứa.
Những tin nhắn anh ta gửi cho tôi.
Câu đầu tiên không phải hỏi tôi có đ/au không.
Cũng không phải hỏi Đậu Đậu được ch/ôn ở đâu.
Mà là bảo tôi quay về.
Đừng làm mọi chuyện trở nên khó coi.
Khoảnh khắc đó, tôi cuối cùng đã x/ác định.
Việc tôi trốn thoát là đúng.
Tôi thuê một căn nhà cũ ở thị trấn.
Tường sân phủ đầy dây leo.
Trên mái nhà có chỗ bị dột.
Vòi nước trong bếp cứ vặn là kêu cọt kẹt.
Dì La nói:
“Căn nhà này cũ thì cũ thật, nhưng thanh tịnh.”
Tôi nói:
“Thanh tịnh là tốt rồi.”
Ngày chuyển vào, tôi chỉ dọn dẹp được một chiếc giường.
Những đồ đạc còn lại chất đống trong phòng khách.
Tôi không còn sức để thu dọn.
Buổi tối, gió luồn qua khe cửa sổ.
Tôi ngồi bên mép giường, chợt nghe thấy tiếng chó sủa bên ngoài.
Rất khẽ.
Giống như tiếng chó con.
Tôi khựng lại một chút.
Đẩy cửa ra.
Ngoài cổng sân đang ngồi một chú chó nhỏ màu đen bẩn thỉu.
G/ầy đến mức nhìn rõ cả xươ/ng sườn.
Nó thấy tôi, lùi lại nửa bước.
Ánh mắt đầy cảnh giác.
Tôi ngồi xổm xuống.
“Mày đói à?”
Nó không động đậy.
Tôi quay vào nhà, trộn chút nước th!t vào phần cơm trưa còn thừa, đặt ở cửa.
Nó nhìn chằm chằm tôi rất lâu.
Cho đến khi tôi lùi về dưới mái hiên, nó mới cẩn trọng tiến lại gần ăn.
Nó ăn rất vội.
Như thể sợ giây tiếp theo sẽ bị người ta cư/ớp mất.
Tôi nhìn nó, hốc mắt chợt cay xè.
Khi Đậu Đậu mới được tôi nhặt về, cũng y hệt như thế này.
Khi đó rõ ràng bản thân tôi còn không đủ ăn, vậy mà vẫn chia nửa cái bánh bao cho nó.
Sau này rất nhiều năm, tôi cứ ngỡ là mình nuôi Đậu Đậu.
Nhưng thực ra là nó đã đồng hành cùng tôi để sống sót.
Chú chó đen nhỏ ăn xong, không rời đi.
Nó nằm bò ở cửa sân.
Cuộn tròn thành một cục nhỏ xíu.
Tôi đứng đó rất lâu.
Cuối cùng vẫn đóng cửa lại.
Tôi không cho nó vào.
Không phải vì không xót.
Mà là tôi không dám.
Tôi sợ mình chỉ cần mềm lòng, sẽ không nhịn được mà coi nó là Đậu Đậu.
Nhưng Đậu Đậu thì không ai có thể thay thế được.
Nó ch*t rồi.
Ch*t là hết.
Tôi phải thừa nhận điều này.
Việc bắt đầu bày sạp vẽ chân dung thú cưng là chuyện của ngày thứ ba.
Tôi m/ua một tấm bảng vẽ ở đầu thị trấn, lại m/ua thêm vài cây bút chì rẻ tiền ở cửa hàng tạp hóa.
Bức tranh đầu tiên, tôi vẽ con mèo mướp nhà dì La.
Nó nằm trên quầy, ánh mắt vừa hung dữ vừa lười biếng.
Dì La nhìn thấy thành phẩm, sững người rất lâu.
“Con mèo này bình thường nhìn gh/ét thế, sao qua tay cô vẽ lại có chút giống con trai tôi thế này.”
Tôi mỉm cười.
Đây là lần đầu tiên tôi cười kể từ khi đến thị trấn.
Dì La đóng khung bức tranh, đặt ở vị trí dễ thấy nhất trên quầy.
Buổi chiều, có người đến hỏi tôi có thể vẽ chó được không.
Đó là một bà cụ.
Bà ôm một chú chó trắng đã già lắm rồi.
Đôi mắt chú chó đục ngầu, đi lại cũng chậm chạp.
Bà cụ nói:
“Nó sắp không qua khỏi rồi.”
“Tôi muốn giữ lại một chút kỷ niệm.”
Tôi cầm bút lên.
Khi vẽ, chú chó trắng đó cứ nằm im lặng.
Thỉnh thoảng lại ngẩng đầu nhìn bà cụ.
Ánh mắt rất dịu dàng.
Tôi vẽ, vẽ, chợt nhớ đến ánh mắt cuối cùng Đậu Đậu nhìn tôi.
Đầu bút khựng lại.
Bà cụ nhận ra tôi có điều bất thường.
Hỏi:
“Cô gái, cô cũng từng nuôi chó à?”
Tôi hạ giọng nói:
“Từng nuôi.”
“Bây giờ thì sao?”
Tôi im lặng rất lâu.
“Ch/ôn trên núi rồi ạ.”
Bà cụ thở dài.
Bà vuốt ve đầu chú chó trắng, chậm rãi nói:
“Những đứa đi trước, không phải là không yêu chúng ta.”
“Mà là chúng quá mệt rồi.”
“Đổi một nơi khác để chờ đợi thôi.”
Tôi cúi đầu.
Nước mắt rơi xuống mép giấy.
May mà không làm hỏng bức tranh.
Ngày hôm đó, tôi ki/ếm được khoản tiền đầu tiên.
Hai trăm năm mươi tệ.
Bà cụ đưa thêm ba mươi tệ.
Bà bảo tôi đã vẽ chú chó của bà như đang sống lại vậy.
Tôi không từ chối.