Trình Ký Bạch sắp cùng bạn thân nhất của tôi là Lê Tinh đến Bắc Kinh rồi. Họ bàn luận hăng say về việc sẽ thuê căn hộ hai phòng ngủ ở đâu, nhưng tuyệt nhiên chẳng có câu nào chứa nổi tên tôi.
Mẹ tôi đã sớm đặt ra hai nguyên tắc sắt: Một khi yêu xa, hoặc bên cạnh người đàn ông xuất hiện một cô gái không thể gạt bỏ, thì đừng có dại dột mà đ/âm đầu vào.
Mà hai điều này, trước mắt tôi đều đang bật đèn đỏ.
Tối hôm đó, ba chúng tôi ăn cơm ở quán đồ ăn Hồ Nam. Tôi như không khí bị kẹp ở giữa, nghe Trình Ký Bạch và Lê Tinh bàn từ chuyện thuê nhà ở Bắc Kinh đến lộ trình đi tàu điện ngầm lúc tan tầm, rồi lại nói về dự án hàng không có người lái mà họ sắp tham gia.
Tôi chẳng thể chen vào nổi một chữ.
Lê Tinh nghiêng đầu nhìn tôi, giọng điệu mang theo chút thương hại vừa vặn:
“Tiểu Chi, cạnh tranh ở các vị trí tốt tại Bắc Kinh khốc liệt lắm, với học vấn của cậu, sang đó cũng phải bắt đầu từ con số không thôi.”
Trình Ký Bạch đang dùng đũa tỉ mỉ gỡ từng chiếc xươ/ng cá cho cô ta, chẳng buồn ngẩng đầu, chậm rãi bồi thêm một câu:
“Tiểu Tinh nói đúng đấy, cậu cứ ở lại quê tìm một công việc ổn định là được rồi.”
Anh ta nói nhẹ tênh, như thể cuộc đời tôi chỉ xứng đáng được gói gọn trong hai chữ “ổn định”.
Tôi không lên tiếng nữa, cúi đầu cắn ch/ặt đũa, dạ dày quặn thắt như vừa nuốt phải đ/á tảng.
Họ lại tiếp tục trò chuyện, nói về việc ban công căn hộ hai phòng ngủ ở Bắc Kinh có thể nuôi chú chó Golden mà Lê Tinh yêu thích nhất, nói về việc cuối tuần sẽ đi xem giải đua xe mà cô ta đã nhắc đến vô số lần.
Tôi cuối cùng không nhịn được nữa, giọng r/un r/ẩy hỏi:
“Trình Ký Bạch, anh vạch ra nhiều kế hoạch như vậy, nhưng trong tương lai của anh có em không?”
Anh ta khựng lại một chút, mỉm cười gắp miếng cá ăn dở vào bát tôi, giọng điệu dịu dàng như đang dỗ dành trẻ con:
“Nhịp sống ở Bắc Kinh quá nhanh, em sẽ chịu thiệt thòi đấy. Em cứ yên ổn ở quê, chẳng phải rất tốt sao?”
Anh ta sợ Lê Tinh đi thêm một bước, chịu thêm một chút khổ.
Vậy mà lại nỡ để tôi bị giam cầm cả đời trong cái thị trấn nhỏ bé đó, an phận thủ thường một cách tầm thường.
Tôi nhìn Lê Tinh gắp thức ăn từ bát anh ta, nhìn anh ta tự nhiên khoác tay lên lưng ghế của cô ta, hai người cười đùa chia sẻ chung một cặp tai nghe.
Người phục vụ bưng đến hai bát mì sườn nóng hổi, cười tươi đặt trước mặt họ:
“Thưa anh chị, hôm nay quán có chương trình ưu đãi, khách hàng là các cặp đôi sẽ được miễn phí suất ăn thứ hai ạ.”
Lê Tinh đỏ mặt, vội vàng đẩy bát mì về phía tôi, lắp bắp giải thích:
“Anh nhầm rồi, tôi và anh ấy không phải… Cô ấy mới là một đôi với anh ấy.”
Người phục vụ vội vàng xin lỗi tôi.
Thực ra chẳng cần xin lỗi.
Để bất cứ ai nhìn vào cũng sẽ thấy Trình Ký Bạch và Lê Tinh mới là một cặp trời sinh, còn tôi đứng bên cạnh, giống như người qua đường vô tình lọt vào khung hình.
Trình Ký Bạch lại tỏ ra rất tự nhiên, đẩy một bát mì về phía tôi, còn tỉ mỉ gỡ từng cọng rau mùi ra:
“Ăn đi, biết em thích món này mà.”
Tôi nhìn bát mì được chăm chút cẩn thận kia, bỗng dưng dâng lên một nỗi chua xót không tên.
Tôi thà rằng anh ta đừng thân thuộc, đừng chu đáo với tôi như vậy.
Bởi vì đằng sau sự chu đáo này, viết rõ ràng một điều: Anh ta không còn yêu tôi nữa, nhưng vẫn chưa nỡ để tôi nhìn thấu sự thật ngay lập tức.
Tôi lí nhí nói cảm ơn, cúi đầu ăn mì, nước mắt từng giọt từng giọt vô thanh rơi vào bát nước dùng.
Qua màn sương mờ, tôi thấy Trình Ký Bạch và Lê Tinh đang không ngẩng đầu mà chia nhau bát mì kia, miếng này, miếng nọ, ăn ý đến mức như thể đã tập dượt riêng với nhau vô số lần.
Trình Ký Bạch ngẩng đầu thấy đôi mắt đỏ hoe của tôi, khẽ nhíu mày, giọng điệu bình thản đến mức khiến người ta lạnh lòng:
“Em là người kỹ tính, không chịu ăn chung bát với người khác, anh chẳng lẽ lại trơ mắt nhìn Tiểu Tinh ăn phần em để lại.”
Lê Tinh vội rút khăn giấy lau nước mắt cho tôi:
“Tiểu Chi, cậu đừng khóc, là mình không nên ăn, mình xin lỗi.”
Trình Ký Bạch lại kéo cô ta ra sau lưng, ánh mắt rơi trên mặt tôi mang theo sự trách móc nhàn nhạt:
“Nguyễn Chi, em thu nước mắt lại đi. Sau này bước ra xã hội, không ai có thể nuông chiều em như anh và Tiểu Tinh đâu.”
Khoảnh khắc đó, tôi ngay cả sức để tủi thân cũng không còn.
Tôi đặt đũa xuống, quệt mặt một cái, đứng dậy kéo ghế bước ra ngoài.
Ngoài cửa ánh đèn rực rỡ, tôi đứng trên phố, gió thổi qua, vệt nước mắt lạnh buốt như d/ao cứa.
Điện thoại trong túi vang lên một tiếng, tôi cúi đầu nhìn, không phải lời xin lỗi của Trình Ký Bạch.
Mà là lời mời từ một công ty ở Bắc Kinh:
“Cô Nguyễn, chúng tôi rất quan tâm đến hồ sơ của cô, không biết cô có tiện để trao đổi thêm không?”
Tôi nhìn dòng chữ đó, nước mắt rơi lã chã trên màn hình, như đang để tang cho cô gái từng liều mạng học tiếng Anh vì Bắc Kinh năm nào.
Tôi chậm rãi gõ một dòng:
“Cảm ơn, không cần đâu. Tôi không còn ý định đến Bắc Kinh nữa.”
Từ trường của Trình Ký Bạch đến trường tôi, đi taxi mất một tiếng rưỡi.
Quãng đường như vậy, trong bốn năm tôi đã đi lại cả trăm lần.
Nhưng Trình Ký Bạch chưa từng đến trường tôi lấy một lần.
Anh ta có quá nhiều lý do: Thí nghiệm quá nhiều, bài vở quá bận, hoặc đến cổng trường rồi lại quay xe về.