Dù hiếm khi đọc sử, tôi cũng từng nghe danh ông, thậm chí còn học thuộc vài chính sách của ông.
Nếu tôi nhớ không lầm, sau này khi triều đại thay đổi, để tránh húy, ông đã đổi tên.
Cái tên phía sau ấy mới là danh xưng mà ông được mọi người biết đến rộng rãi.
Thế nên bao năm qua, tôi mới chưa từng nghĩ đến hướng này.
Nếu tất cả những gì Thẩm Tình nói đều là thật, liệu tôi có thực sự sẽ ch** vào những năm cuối thời Minh Thành?
Nếu dòng chảy lịch sử đã định sẵn không thể thay đổi, vậy rốt cuộc tôi sẽ đi đến một kết cục như thế nào?
Trong lúc tôi đang ngẩn ngơ, Ôn Kiều bước vào.
Ngay khi ông vừa vào cửa, tôi đã chú ý đến khóe môi hơi nhếch lên của ông.
Đối với một người vốn không biểu lộ hỉ nộ ra mặt như Ôn Kiều, điều này đã cho thấy tâm trạng ông đang cực kỳ vui vẻ.
Ông hào hứng kể cho tôi nghe về những điều mắt thấy tai nghe ban ngày:
"Cô nương đó viết thơ mang khí phách hào hùng, thật không ngờ lại do một nữ tử chốn khuê phòng viết ra."
Sau đó, ông không kìm lòng được mà ngâm thơ:
"Mọi chuyện đã qua, đếm những bậc phong lưu, vẫn phải xem ngày nay.
Thật là một câu 'vẫn phải xem ngày nay' hay tuyệt."
Ôn Kiều là một người mê thơ, niềm vui duy nhất ngoài việc triều chính chính là viết và đọc thơ.
Tôi lặng lẽ lắng nghe, cổ họng bỗng thấy nghẹn đắng, tâm trí dần trở nên xa xăm.
Có lẽ nhận ra tâm trạng tôi sa sút, Ôn Kiều hỏi:
"Sao thế, nàng đang nghĩ gì vậy?"
Tôi chỉ lắc đầu đầy mệt mỏi:
"Không có gì, chỉ là ban ngày hơi mệt thôi."
Thế là ông không nói gì thêm, cúi đầu thổi tắt đèn, thản nhiên nói:
"Nghỉ ngơi sớm đi."
Đó chính là cuộc hôn nhân của tôi và Ôn Kiều, ngay cả sự quan tâm cũng chỉ dừng lại ở mức xã giao.
Nhưng tôi nghĩ, cuộc sống mà, cứ bình bình đạm đạm mới có thể bền lâu.
Thế rồi ngày tháng vẫn cứ trôi đi một cách chậm rãi.
Thẩm Tình nhờ vào vài bài thơ mà nổi danh khắp kinh thành, thậm chí thiên tử cũng xem thơ của cô ta và dành cho những lời khen ngợi rất cao.
Trong phút chốc, giá giấy ở kinh thành tăng vọt.
Tôi từng gặp cô ta vài lần tại các buổi du xuân, cô ta xứng đáng là tâm điểm của các bữa tiệc.
Cử chỉ phóng khoáng, công chúa hay vương gia đều là bạn bè của cô ta.
Những lần tình cờ gặp tôi, cô ta chỉ ngẩng cao cái đầu kiêu ngạo rồi hừ lạnh một tiếng.
Thú thật, tôi không hề có á/c ý với cô ta, thậm chí tôi từng thử khuyên bảo:
"Cây cao hơn rừng, gió sẽ thổi đổ."
Trong thời đại này, một thứ nữ không quyền không thế mà quá phô trương thì tuyệt đối chẳng phải chuyện tốt lành gì.
Cô ta lại chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt đầy thương cảm, giọng điệu mỉa mai:
"Yến tước sao hiểu được chí hướng của chim hồng hộc, ta không giống ngươi."
Còn tôi, tôi cố gắng tìm ki/ếm nguyên nhân cái ch** của mình, thử xem có thể thay đổi vận mệnh hay không.
Thực ra, lúc mới xuyên không đến đây, sau khi gạt bỏ những sự tò mò ban đầu và chứng kiến sự khắc nghiệt của xã hội phong kiến, tôi từng tìm đủ mọi cách để quay về.
Từ hiện tượng thiên văn cho đến tín vật, cuối cùng đều thất bại.
Cái hệ thống đưa tôi đến đây thậm chí còn biến mất không dấu vết.
Sau đó, tôi gả cho Ôn Kiều, sinh được một trai một gái, dần dần nảy sinh nhiều mối liên hệ với triều đại này, rồi từ từ cũng hoàn toàn dập tắt hy vọng.
Tôi tạo ra mối liên hệ với con người, mà liên hệ chính là sợi dây ràng buộc.
Giống như con diều, vì có dây nên dù bay xa đến đâu cũng sẽ quay về.
Sau khi đã có sự ràng buộc, tôi đã không còn nỡ rời xa nữa.
Đến ngày Tết Trung thu, phủ cho mời thợ đến làm y phục mới.
A Hành và A D/ao vây quanh xấp vải đùa nghịch:
"Con muốn tấm vải này, con muốn may chiếc váy hoa đẹp nhất."
"Nương ơi, con thích màu đỏ."
"Nương ơi nương, con muốn may hai bộ."
Tôi cười nhìn chúng đùa giỡn, bỗng thấy có chút buồn bã.
Nếu tôi không còn nữa, hai đứa trẻ mất mẹ liệu có được đối xử tử tế không?
Vì thế, hôm nay tôi gần như nuông chiều nói:
"Được, hôm nay chúng ta muốn may bao nhiêu bộ cũng được."
Lời vừa dứt, Ôn Kiều bên cạnh liền hắng giọng tỏ vẻ không vui:
"Từng sợi tơ, từng mảnh vải đều đáng quý, quần áo đủ mặc là được rồi."
A D/ao bĩu môi, hơi không vui, nhưng cũng chỉ khẽ gật đầu đáp:
"Con biết rồi, thưa cha."
Ôn Kiều luôn nghiêm khắc trong việc dạy dỗ, cả hai đứa trẻ đều hơi sợ ông.
Tôi nói đỡ vài câu rồi cho bọn trẻ lui ra.
Sau khi bọn trẻ đi, Ôn Kiều thản nhiên nói:
"Trung thu năm nay, nàng may cho ta một bộ y phục màu trắng trăng, hoa văn thì chọn cành trúc là được."
Ôn Kiều là người không mấy để tâm đến cuộc sống, quần áo thế nào cũng được, bình thường đều do tôi quán xuyến.
Đây là lần đầu tiên ông chủ động yêu cầu màu sắc và kiểu dáng.
Tôi cúi đầu che đi sự tối tăm trong ánh mắt, chỉ ngoan ngoãn đáp:
"Được."
Lại vài ngày nữa trôi qua, tôi ngửi thấy mùi hương trên người ông, giả vờ vô tình hỏi:
"Mùi gì thế?"
Ông thản nhiên đáp:
"Gần đây trời nóng, nên bảo nha hoàn xông hương giúp ta."
Dần dần, ông về ngày càng muộn, suốt ngày chìm đắm trong các thi xã.
Ông nhắc đến Thẩm Tình trước mặt tôi ngày càng nhiều, khi thì là những bài thơ cô ta mới sáng tác, khi thì là những lời lẽ gây chấn động của cô ta.
Còn tôi cứ lặng lẽ nhìn trái tim ông dần dần xa rời.
Trước đây tôi cứ ngỡ Ôn Kiều là người lạnh lùng như thế, nên việc giữ gìn sự tôn trọng như khách (cử án tề mi) đã là tình yêu tốt nhất mà ông có thể cho.
Thậm chí từng có lúc tôi tự phụ nghĩ rằng, biết đâu ông cũng có chút ít tình cảm với tôi, ngày tháng dài lâu ắt sẽ nảy sinh tình ý.