Đôi vòng đó là do chồng tôi m/ua trước khi ông ấy đổ b/ệnh.
Ông ấy bảo: “Sau này con dâu về nhà, bà làm mẹ chồng thì đừng để tay không.”
Tôi lấy gói vải đỏ ra xem, rồi lại đặt về chỗ cũ.
Sau đó khóa cửa tủ lại.
Ngày xuất phát, tôi kiểm tra tổng thể điện nước trong nhà một lượt, tủ lạnh không rút điện, cửa sổ đóng ch/ặt, còn hai chậu cây trầu bà ngoài ban công thì nhờ chị Châu tưới giúp.
Chị Châu hỏi tôi: “Thật sự không hỏi Trần Hạo một tiếng sao?”
Tôi đang buộc dây giày, khựng lại một lúc.
“Không hỏi.”
“Cô không thấy bí bách à?”
“Bí chứ.”
Tôi đứng thẳng người dậy.
“Nhưng tôi không muốn phải chạy theo hỏi con trai mình rằng, tại sao nó cưới vợ mà không báo cho tôi.”
Chị Châu há miệng, cuối cùng chỉ nói: “Đi ra ngoài giải khuây cũng tốt.”
Trước khi lên xe, tôi tắt điện thoại.
Không phải chặn ai cả.
Chỉ là tắt máy.
Khoảnh khắc đó, tôi thậm chí không biết liệu Trần Hạo có tìm mình hay không.
Sau khi máy bay cất cánh, tôi nhìn lớp mây ngoài cửa sổ, trong lòng thấy trống rỗng từng đợt.
Nói không buồn chút nào thì là nói dối.
Năm tôi sinh Trần Hạo, tôi hai mươi bảy tuổi.
Lúc nó còn nhỏ bị sốt cao, tôi và Trần Kiến Quốc nửa đêm ôm nó chạy vào viện; lên cấp hai ở nội trú, lần đầu tiên nó xa nhà, tối đến trốn trong chăn gọi điện cho tôi; lúc tốt nghiệp đại học đi xin việc, bộ vest đầu tiên nó mặc đi phỏng vấn cũng là tôi đi m/ua cùng.
Một đứa trẻ từ hơn ba cân, lớn lên thành một chàng trai cao một mét tám.
Giờ nó cưới vợ.
Người cuối cùng biết chuyện lại là tôi.
Đêm đầu tiên ở Côn Minh, tôi gần như không ngủ.
Mấy chị đi cùng rủ tôi ra ngoài ăn bún qua cầu, tôi bảo mệt nên ở lại khách sạn.
Trong phòng có hai cái cốc.
Tôi theo bản năng lấy cả hai ra, đặt lên bàn rồi mới sực nhớ ra, Trần Kiến Quốc đã mất được sáu năm rồi.
Tôi lại cất một cái vào.
Ngoài cửa sổ có xe chạy qua, ánh đèn quét qua khe rèm cửa.
Tôi bỗng nhớ lại sinh nhật mười tám tuổi của Trần Hạo.
Ngày đó nó chê bánh kem tôi đặt quê mùa, sau khi bạn bè đến, nó cứ giục tôi và bố nó về phòng.
Trần Kiến Quốc lúc đó còn hơi gi/ận.
Tôi lại bênh con: “Con nó lớn rồi, trước mặt bạn bè cũng cần thể diện.”
Sau này những chuyện như thế ngày càng nhiều.
Khi nó đi làm, dẫn đồng nghiệp đi ăn không muốn để tôi chạm mặt; đổi xe mới, tôi hỏi giá, nó bảo “mẹ thì biết gì mà hỏi”; tôi gửi bài báo dưỡng sinh cho nó, nó chê phiền, nói vài lần như thế, tôi cũng không gửi nữa.
Tôi luôn nghĩ đó là vì con đã lớn.
Giờ mới hiểu, trưởng thành và việc gạt cha mẹ ra khỏi cuộc sống là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
Ngày thứ hai chúng tôi đi Thạch Lâm.
Trời nắng gắt, tôi m/ua một chiếc mũ bốn mươi tệ.
Chị Tôn đi cùng bảo: “Chiếc mũ này của cô đẹp đấy.”
Tôi soi gương.
Đã lâu lắm rồi tôi không thực sự nhìn kỹ chính mình.
Tóc đã bạc đi không ít, vết chân chim nơi khóe mắt cũng sâu hơn.
Những năm qua, tôi m/ua cái áo ba trăm tệ cũng phải đắn đo hai ngày, nhưng đổi điện thoại cho Trần Hạo thì có thể chuyển một lần tám nghìn.
Chẳng ai ép tôi cả.
Là tự tôi cảm thấy, làm mẹ thì nên như vậy.
Ngày thứ ba của chuyến du lịch, chúng tôi đến Đại Lý.
Mọi người ngồi bên hồ Nhĩ Hải chụp ảnh, tôi cũng nhờ hướng dẫn viên chụp giúp một tấm.
Trong ảnh, tôi mặc chiếc áo khoác sáng màu, gió thổi mái tóc rối bời.
Tôi nhìn một lúc, không ngờ lại khá thích tấm ảnh đó.
Hướng dẫn viên hỏi tôi có muốn đăng lên mạng xã hội không.
Tôi đáp: “Điện thoại tắt máy rồi.”
Cô ấy cười: “Đi chơi mà cũng tắt máy sao?”
“Cho thanh tịnh.”
Cô ấy cũng không hỏi thêm.
Những ngày đó, tôi thực sự không hề mở máy.
Buổi tối thỉnh thoảng lại nghĩ, không biết Trần Hạo có phát hiện tôi không có ở nhà không.
Nghĩ xong lại thấy mình nực cười.
Nó cưới vợ còn chẳng nhớ đến tôi, vậy mà tôi còn đang đoán xem nó có tìm mình không.
Ngày thứ năm, chị Tôn đã thân với tôi hơn.
Lúc ăn cơm, chị ấy hỏi: “Cô một mình đi chơi, người nhà không lo lắng à?”
Tôi gắp một miếng nấm.
“Con trai bận lắm.”
“Đã cưới vợ chưa?”
Đũa trên tay tôi khựng lại.
“Cưới rồi.”
“Vậy thì tốt quá, sau này chờ bế cháu.”
Tôi cười cười, không đáp.
Chị Tôn không nhận ra điều gì, còn kể cho tôi nghe chuyện con dâu chị ấy ở cữ.
Tôi lắng nghe, bỗng thấy không còn khó chịu đến thế nữa.
Người lạ không biết chuyện của tôi, tôi chỉ là một khách du lịch bình thường.
Không cần giải thích tại sao con trai cưới vợ không mời mình.
Cũng không cần đón nhận sự thương hại của người khác.
Cảm giác này ngược lại khiến tôi trút được gánh nặng.
Ngày thứ bảy của chuyến đi, chúng tôi đến một thị trấn nhỏ.
Ven đường có cửa hàng b/án đồ bạc, mấy người trong đoàn vào m/ua quà cho con cái.
Ban đầu tôi không định m/ua gì.
Đến cửa, lại nhìn thấy trong tủ kính có một chiếc vòng tay bạc trơn.
Không đắt, hơn sáu trăm tệ.
Trước đây, phản ứng đầu tiên của tôi chắc chắn là m/ua cho con dâu tương lai một chiếc.
Ngày đó, tôi thử đeo lên.
Kích thước vừa vặn.
Nhân viên b/án hàng nói: “Chị ơi, chị đeo cái này hợp lắm.”
Tôi cúi đầu nhìn vài giây.
“Gói cho tôi đi.”
Lúc quẹt thẻ, lòng tôi bỗng thấy hơi xót.
Chỉ là hơn sáu trăm tệ thôi mà.
Lần đầu tiên tôi cảm thấy, hóa ra tiêu tiền cho bản thân cũng chẳng cần phải tìm lý do.
Chuyến đi kéo dài tổng cộng mười một ngày.
Khi máy bay hạ cánh trở về là hơn bốn giờ chiều.
Tôi không vội mở điện thoại.
Về đến nhà, tôi mở cửa sổ thông gió trước, rồi sang nhà chị Châu lấy chìa khóa.
Chị ấy nhìn thấy tôi, rõ ràng là thở phào nhẹ nhõm.
“Cuối cùng cô cũng về rồi.”
“Sao vậy?”
“Con trai cô đến ba lần rồi đấy.”
Động tác thay giày của tôi dừng lại.
“Nó tìm tôi à?”
“Chứ sao nữa.”
Chị Châu hạ thấp giọng: “Lần đầu là buổi tối, đ/ập cửa mãi không được. Lần thứ hai nó dẫn cả vợ nó đến.”