Tôi mang theo chiếc hộp gỗ, chật vật lắm mới tìm được đường về quán trọ.
Khi lảo đảo trở về đến nơi thì trời đã sáng tỏ.
Chủ quán trọ nhìn thấy bộ dạng của tôi thì gi/ật mình, vội vàng hỏi có phải tôi gặp phải sơn tặc hay không.
Tôi không kịp giải thích với ông ta, ôm chiếc hộp gỗ chạy thẳng về phòng, đóng ch/ặt cửa lại.
Tôi cảm thấy cả người mình chìm vào một trạng thái hưng phấn không thể diễn tả bằng lời, đối với mọi sự khó chịu bên ngoài (như đói khát, lạnh lẽo) đều không hề hay biết, chỉ một lòng muốn đọc cho bằng hết những bản thảo đó.
Những nét chữ đó phần lớn rất nguệch ngoạc, ghi chép những chuyện vụn vặt phức tạp, dòng thời gian cũng rất hỗn lo/ạn.
Tôi vùi đầu nghiên c/ứu ngày đêm, hồi lâu sau mới làm rõ được đầu đuôi sự việc.
Thế nhưng tôi không hề cảm thấy cảm giác "vén mây nhìn thấy mặt trời" như mong đợi. Ngược lại, tôi trở nên nh.ạy cả.m và lo âu hơn, vô số lần tự trách bản thân vì đã đọc những dòng chữ quái dị và đi/ên cuồ/ng này.
Thời điểm bắt đầu trong bản thảo của Lưu Tử Ký là lúc ông quyết định đi bái kiến thái thú.
Bởi vì ông nghe nói trong phủ thái thú có người đã từng đến một nơi phong cảnh tú lệ mà không ai biết tới.
Lưu Tử Ký và thái thú có mối giao tình khá tốt, thái thú tiếp đón ông rất nồng hậu, hai người trò chuyện vui vẻ rất lâu, nhưng hễ khi Lưu Tử Ký hỏi về nơi bí ẩn đó, sắc mặt thái thú liền thay đổi.
Sau khi Lưu Tử Ký gặng hỏi nhiều lần, thái thú mới chịu tiết lộ sự thật.
Thời kỳ Thái Nguyên, trong phủ thái thú từng có một ngư dân Vũ Lăng đến thăm, yêu cầu được đích thân gặp thái thú.
Người ngư dân kể cho thái thú nghe về cuộc kỳ ngộ của mình:
Một ngày nọ, ngư dân chèo thuyền dọc theo dòng suối mà đi, bỗng nhiên gặp một rừng đào trải dài hai bên bờ mấy dặm. Mặc dù đã qua thời điểm hoa đào nở rộ, nhưng những cây đào đó lại đang nở hoa rực rỡ.
Ngư dân đá/ nh cá trên suối nhiều năm, chưa từng thấy cảnh tượng kỳ lạ như vậy, lòng sinh hiếu kỳ muốn xem đây rốt cuộc là nơi nào, thế là liền chèo thuyền đi tiếp. Không lâu sau, một ngọn núi chưa từng thấy chắn ngay trước mặt, trên núi có một cái hang động không lớn lắm.
Ngư dân không nghĩ ngợi nhiều, liền xuống thuyền đi vào trong hang. Hang động ban đầu rất hẹp, ngư dân phải khom lưng nghiêng người mới có thể miễn cưỡng đi qua. Đi không bao lâu, hang động bắt đầu rộng rãi ra, ngư dân trong lòng vui mừng khôn xiết, cứ thế đi thẳng về phía ánh sáng ở cuối hang.
Sau khi ra khỏi hang, ông nhìn thấy một nhóm người mặt mũi hiền lành, có nam có nữ, có già có trẻ.
Những người này nhìn thấy ngư dân thì vô cùng kinh ngạc, liên tục hỏi ông làm sao đến được đây. Ngư dân đáp: Tình cờ tìm thấy đường.
Những người đó liền kéo ngư dân vào một ngôi làng biệt lập, cơm rư/ợu thết đãi.
Ngư dân lưu lại nơi đây vài ngày, nghe kể rằng những người này đời đời tụ cư tại đây. Họ thờ phụng một vị cổ thần vĩ đại và từ bi.
Vị cổ thần này thọ ngang với thời gian vô tận, to lớn ngang với không gian mà họ có thể nhìn thấy.
Ngài sẽ lắng nghe lời cầu nguyện của tín đồ và ban cho họ tất cả những gì họ mong đợi...
Các tín đồ mời ngư dân ở lại, cùng họ phụng sự vị cổ thần này.
Ngư dân trong lòng không dứt được nỗi nhớ vợ con, nên đã khéo léo từ chối, hẹn rằng sẽ đưa gia đình quay lại sau.
Trước khi ông rời đi, có tín đồ từng khéo léo nhắc nhở ngư dân rằng, tất cả những gì ở đây không cần thiết phải kể cho người bên ngoài biết.
Ngư dân đi theo con đường cũ quay về, dọc đường đá/ nh dấu rất nhiều ký hiệu.
Ngay khi vừa về đến nơi quen thuộc, ông liền chạy đến bái kiến thái thú. Hóa ra ông vốn không có vợ con, chỉ là hy vọng có thêm nhiều người nghèo khổ cùng cảnh ngộ với mình có thể cùng đến nơi đó.
Thái thú không hề để tâm đến những lời ngư dân nói.
Ngư dân gặp thái thú xong liền rời đi. Ông còn tặng thái thú một túi cá tươi, nói rằng đá/ nh bắt được từ dòng suối bên rừng đào đó, nghĩ rằng chắc là hương vị rất tươi ngon.
Mọi người trong phủ thái thú đều được chia phần cá.
Đêm đó, lại xảy ra hai chuyện kỳ lạ.
Thứ nhất là mấy chục người trong phủ thái thú, ngoại trừ những gia đinh trực đêm không ngủ, đều mơ cùng một giấc mơ. Cảnh tượng trong mơ giống hệt với những gì ngư dân mô tả.
Thứ hai là đứa con trai đ/ộc nhất của thái thú, tiểu công tử từ khi sinh ra đến sáu tuổi vẫn chưa từng mở miệng nói chuyện, vậy mà lại bắt đầu nói được!
Câu đầu tiên đứa trẻ nói không ai hiểu được: "Đến năm chín bảy, tính ba mà ch**..."
Tuy nhiên tiểu công tử nhanh chóng nói được những câu bình thường, còn câu nói kỳ lạ kia trở thành câu cửa miệng của cậu bé.
Từ đó về sau, mọi người đều mọi việc như thường, chỉ có tiểu công tử, nhiều lần nhắc đến việc muốn đi đến một ngôi làng nằm sâu trong rừng đào.
Thái thú thấy con không có biểu hiện gì khác lạ, chỉ cho rằng đó là lời trẻ con không biết kiêng kỵ.
Thoắt cái mười mấy năm trôi qua, tiểu công tử cũng đã lớn, cách đây không lâu, không biết vì sao cậu bé chạy đến phòng khách chơi đùa, không biết đã lật tìm ra một tấm bản đồ vẽ tay ở góc nào đó.
Cậu liền cầm tấm bản đồ này tìm đến thái thú, báo cho cha biết mình chuẩn bị đến nơi này du ngoạn. Còn nói nơi này chính là Đào Nguyên luôn xuất hiện trong giấc mơ của cậu.