“Ba ngày sau giờ Tý, nếu ta không đến, nàng hãy mau chóng rời khỏi Bắc Địch, vĩnh viễn đừng bao giờ quay lại nữa.”
Nói xong, hắn đóng cửa sổ, thổi tắt nến.
Thiên điện chìm vào bóng tối.
Quan Đại Mai nấp sau gốc cây khô thêm nửa canh giờ, x/ác định Thác Bạt Dã đã rời đi, mới lặng lẽ lộn người vượt tường, men theo đường cũ trở về khách điếm.
Suốt dọc đường gió tuyết gào thét, lòng nàng lại còn hỗn lo/ạn hơn cả gió tuyết.
Thác Bạt Dã biết nàng chưa ch**. Biết nàng đã vào Xích Viêm thành. Thậm chí còn sắp xếp nơi ẩn náu cho nàng.
Rốt cuộc hắn muốn làm gì? Là để tự tay b/áo th/ù, hay là...
Khi trở về khách điếm Lão Cáp Đồ, đã là giờ Sửu. Đại sảnh khách điếm sớm đã tắt đèn, chỉ còn một ngọn đèn dầu trên quầy là còn sáng. Lão già chột mắt gục đầu trên quầy, dường như đã ngủ thiếp đi.
Quan Đại Mai nhẹ nhàng bước về phía hậu viện.
“Phòng củi hậu viện gió lùa, khách quan chi bằng đổi gian phòng khác đi.” Giọng lão già đột ngột vang lên, mang theo cơn buồn ngủ nặng nề.
Quan Đại Mai khựng lại: “Không cần, ta ở quen nhà gió lùa rồi.”
“Vậy khách quan đêm nay nhớ đóng ch/ặt cửa sổ, mấy hôm nay gió lớn, coi chừng cảm lạnh.” Lão già ngẩng đầu lên, con mắt đ/ộc nhất đục ngầu dưới ánh đèn mờ ảo lóe lên tia sáng khác lạ, “Phải rồi, chiều tối có một thương nhân gửi đến một túi phô mai khô Mạc Bắc, nói là cho cố nhân từ phương nam tới. Ta đặt ở trước cửa phòng củi rồi.”
Lòng Quan Đại Mai chấn động, nhưng vẻ mặt vẫn bình thản: “Đa tạ chưởng quầy.”
Nàng trở về phòng, quả nhiên phát hiện một túi vải nhỏ ở trước cửa. Mở ra, bên trong là mười mấy miếng phô mai khô, mùi sữa nồng đượm-- chính là loại mà năm xưa Thác Bạt Dã thường lén lấy từ trong cung mang ra cho nàng.
Dưới lớp phô mai, đ/è một mảnh giấy nhỏ. Trên giấy chỉ có hai chữ:
“Mau đi.”
Nét mực nguệch ngoạc, như thể viết trong vội vã.
Quan Đại Mai đưa mảnh giấy đến gần đèn soi kỹ, lại đưa lên chóp mũi ngửi ngửi-- trong mực phảng phất mùi th/uốc kim sang.
Là chữ của Thác Bạt Dã. Là lời cảnh báo hắn gửi đến.
Nàng đưa mảnh giấy vào ngọn nến đ/ốt ch/áy, tro tàn ngh/iền n/át rắc vào chậu than. Sau đó nhanh chóng thu dọn hành lý, dắt con ngựa già ra, lặng lẽ rời khỏi cửa sau khách điếm.
Trên đường phố không một bóng người, chỉ có gió tuyết rít gào. Quan Đại Mai không vội đi về hướng tây thành, mà dắt ngựa lượn vài vòng trong ngõ nhỏ, x/ác định không có kẻ theo đuôi, mới nhảy lên lưng ngựa, phi nước đại về phía cổng thành.
Lính canh thành đang gà gật ngủ, bị tiếng vó ngựa dồn dập của nàng làm cho tỉnh giấc.
“Kẻ nào?!” Tên lính giơ thương quát hỏi.
Quan Đại Mai lấy văn điệp ra, vội vàng nói: “Quân gia, chồng ta bị bầy sói vây ở đồng cỏ ngoài thành, ta phải đi c/ứu chàng!”
Tên lính soi đèn lồng nhìn văn điệp, lại thấy vẻ mặt hốt hoảng của nàng, không giống giả vờ, bèn lầm bầm mở cửa hông: “Mau đi đi, cái thời tiết q/uỷ quái này, bầy sói đói đi/ên rồi, phải cẩn thận đấy.”
“Đa tạ quân gia!”
Vó ngựa nát tan lớp tuyết dày, lao ra khỏi cổng thành. Quan Đại Mai rạp mình trên lưng ngựa, roj quất mạnh vào mông ngựa. Con ngựa già đ/au đớn, tung bốn vó lao đi/ên cuồ/ng trên đồng tuyết.
Gió lạnh như d/ao, c/ắt vào mặt đ/au rát. Nàng quay đầu nhìn lại, bóng dáng Xích Viêm thành dần mờ ảo trong gió tuyết, chỉ còn vài đốm đèn le lói trong bóng tối, tựa như đôi mắt của loài thú đang rình rập.
Ba mươi dặm đường, trong đêm gió tuyết lại càng dài đằng đẵng. Con ngựa già chạy được nửa đường đã thở không ra hơi, hơi trắng phun ra từ miệng mũi đông lại thành sương giá trong cái lạnh thấu xươ/ng. Quan Đại Mai đành xuống ngựa dắt bộ, bước thấp bước cao lội trong lớp tuyết dày tới đầu gối.
Khi trời sắp rạng đông, nàng cuối cùng cũng thấy bóng dáng Ưng Chủy Hạp-- hai vách núi dựng đứng đối diện nhau như mỏ chim ưng, ở giữa là một con đường hẹp, địa thế hiểm yếu, dễ thủ khó công.
Trên sườn núi phía đông, quả nhiên có một ngôi nhà gỗ cô đ/ộc.
Quan Đại Mai buộc ngựa vào chỗ khuất gió sau nhà, đẩy cửa gỗ. Đồ đạc trong nhà đơn sơ nhưng khá sạch sẽ, có bếp lò, sập đất, góc tường chất củi khô và vài bao lương thực. Nàng lật phiến đ/á thứ ba sau nhà lên, lộ ra một lỗ hổng chỉ đủ một người chui qua, có thang gỗ dẫn xuống dưới.
Hầm không lớn, nhưng cái gì cũng có: lương khô, nước sạch, chăn lông, thậm chí có cả vài cuốn sách và một bộ bút mực. Điều đáng chú ý nhất là tấm bản đồ treo trên tường-- chính là bản đồ địa hình chi tiết của Xích Viêm thành và vùng phụ cận, trên đó dùng bút chu sa đá/ nh dấu rất nhiều điểm bố phòng mới mà Quan Đại Mai chưa từng nắm được.
Nàng thắp đèn dầu, ghé sát vào xem kỹ. Càng xem, lòng càng nặng trĩu.
Mười lăm năm nay, công trình phòng thủ của vương đình Bắc Địch hầu như đã được xây dựng lại toàn bộ. Trên vách núi hai bên Ưng Chủy Hạp đã bổ sung mười hai pháo đài ngầm, trong thung lũng ch/ôn đầy chông sắt và dây vướng ngựa, trên vách đ/á dựng đứng sau núi thậm chí còn đào một con đường mật, thông thẳng vào sâu trong vương cung.
Nếu quân đội Trung Nguyên tấn công theo bản đồ cũ, chắc chắn sẽ bị tổn thất nặng nề.
Quan Đại Mai ngồi trên đống cỏ khô trong hầm, sự mệt mỏi ập tới, suýt chút nữa nhấn chìm nàng. Nhưng sợi dây th/ần ki/nh trong đầu vẫn căng như dây đàn-- Thác Bạt Dã tại sao lại cho nàng xem thứ này? Là thăm dò, hay là...
Nàng không dám nghĩ sâu hơn.
Ngọn lửa đèn dầu nhảy múa, đổ bóng chao đảo lên vách hầm. Quan Đại Mai lấy chiếc răng sói trong ngựk ra, nắm ch/ặt trong lòng bàn tay. Đầu răng lạnh buốt, cứa vào da th!t nàng đ/au điếng.