Thác Bạt Dã hung hăng đẩy nàng ra sau, xoay người, vung đ/ao xông về phía Thác Bạt Viêm: “Gi*t!”
Năm tên lính giáp đen gầm thét đuổi theo, tựa như th/iêu thân lao vào lửa, đ/âm sầm vào dòng thác quân truy đuổi.
Quan Đại Mai nhìn hắn lần cuối-- bóng lưng hắn thẳng tắp, tựa như một lá cờ không bao giờ chịu khuất phục, trong ánh lửa, trong biển m/áu, hắn đã gi*t ra một con đường sống cho nàng.
Giống như nhiều năm về trước, khi hắn bảo vệ con cừu non trong bầy sói.
Nàng nghiến răng, quay người lao vào hậu điện.
Sau lưng truyền đến tiếng gầm thét của Thác Bạt Dã, tiếng ch/ửi bới của Thác Bạt Viêm, tiếng binh khí va chạm dữ dội, và cả... tiếng thứ gì đó bị đ/âm xuyên.
Nhưng nàng không quay đầu lại.
Không thể quay đầu.
Mật đạo hậu điện nằm dưới khám thờ, sâu thẳm, chật hẹp. Quan Đại Mai đi/ên cuồ/ng chạy trong bóng tối, vấp ngã rồi lại bò dậy, lại ngã, lại bò dậy. Đầu gối trầy xước, lòng bàn tay rá/ch nát, nhưng nàng không cảm thấy đ/au.
Trong đầu chỉ toàn là nụ cười cuối cùng của Thác Bạt Dã.
Hắn nói, Mai tỷ tỷ, lần này đổi lại là ta bảo vệ tỷ.
Nhưng hắn từng nói, muốn tự tay gi*t nàng, dùng cong đ/ao ch/ặt đầu nàng, treo lên đầu thành Xích Viêm.
Đồ dối trá.
Đều là đồ dối trá.
Lối ra mật đạo nằm trong gò m/ộ ở bãi tha m/a. Đẩy nắp qu/an t/ài mục nát ra, không khí lạnh lẽo tràn vào. Tuyết vẫn rơi, bay lả tả, nhuộm bãi tha m/a thành một màu trắng xóa.
Một con ngựa đen buộc dưới gốc cây khô, bất an dậm chân.
Quan Đại Mai nhảy lên ngựa, nhìn lại hướng Xích Viêm thành lần cuối. Ánh lửa vương cung nhuộm đỏ cả nửa bầu trời, tiếng hò hét gi*t chóc vọng lại mơ hồ, tựa như cơn bão từ xa xôi.
Nàng siết ch/ặt dây cương, móng tay cắm sâu vào da th!t.
Rồi thúc mạnh bụng ngựa, hướng về phía nam, lao vào đêm tuyết mịt m/ù.
Ngựa chạy đi rất xa, rất xa, xa đến mức Xích Viêm thành chỉ còn là một đốm sáng đỏ yếu ớt nơi chân trời. Quan Đại Mai mới ghìm cương, lần mò trong ngựk lấy chiếc răng sói ra.
Đầu răng phản chiếu ánh trăng tỏa ra luồng sáng trắng lạnh lẽo.
Nàng nhìn rất lâu, đột nhiên vung tay, ném nó mạnh mẽ vào rãnh tuyết bên đường.
Chiếc răng sói biến mất trong lớp tuyết dày, không để lại dấu vết.
Giống như những tình cảm ấm áp xa xỉ không nên có kia, vốn dĩ nên được ch/ôn vùi trong trận hỏa hoạn ở Nhạn Môn Quan từ mười lăm năm trước.
Quan Đại Mai lau mặt, mu bàn tay ướt đẫm, không phân biệt được là nước tuyết hay thứ gì khác.
Nàng quay đầu ngựa, tiếp tục tiến về phía nam.
Sau lưng, ánh lửa Xích Viêm thành ngày càng mờ nhạt, cuối cùng tắt ngấm hoàn toàn trong bóng tối trước bình minh.
Trời, sắp sáng rồi.
Con ngựa ngã gục vào sáng ngày thứ ba.
Bọt trắng phun ra từ miệng mũi thấm loang thành mảng vàng lớn trên nền tuyết, chân trước mềm nhũn, cả thân mình đổ ầm xuống, hất văng Quan Đại Mai ra xa hơn một trượng. Nàng lăn vài vòng trên tuyết, khi bò dậy, con ngựa đen kia đã chỉ còn hơi ra mà không còn hơi vào.
Nàng ngồi xổm xuống, xoa xoa cổ ngựa. Nóng hổi, mạch đ/ập yếu ớt mà dồn dập-- là mệt ch**, cũng là lạnh ch**.
Quan Đại Mai lục trong túi yên ngựa lấy ra nửa miếng lương khô cuối cùng, ăn cùng với tuyết. Sau đó tháo yên ngựa, dùng đoản đ/ao rạ/ch bụng ngựa, lấy ra trái tim vẫn còn đang đ/ập nhè nhẹ, gói vào vải dầu nhét vào trong ngựk. Ở Mạc Bắc, đây là bản năng để sống sót.
Nàng tiếp tục tiến về phía nam.
Tuyết đã ngừng, nhưng gió lại mạnh hơn, tựa như d/ao c/ắt qua hoang nguyên. Không có ngựa, nàng đi rất chậm, mỗi một bước đi, vết thương trên chân lại đ/au nhói tận tâm can. Vết thương do đ/ao trên vai đã đóng vảy, nhưng mỗi lần giơ tay đều sẽ x/é rá/ch, rỉ m/áu.
Hoàng hôn ngày thứ tư, nàng nhìn thấy đài phong toại nơi biên cảnh.
Cái đài màu vàng đất đứng sừng sững cô đ/ộc trong bóng chiều tà, tựa như một cái nêm đóng ch/ặt vào hoang nguyên. Đó là biên giới Trung Nguyên, qua khỏi đài phong toại, là về đến nhà rồi.
Nhà?
Quan Đại Mai nhếch mép, nhưng không cười nổi. Mười lăm năm, nàng sớm đã không biết nhà ở nơi đâu.
Dưới đài phong toại có một ngôi nhà đất nhỏ, là nơi lính thú nghỉ chân. Nàng đẩy cửa vào, trong nhà không một bóng người, chỉ có một chiếc chăn rá/ch, một bếp lửa, góc tường chất đống củi khô. Tro tàn trong bếp vẫn còn ấm, lính thú chắc hẳn vừa mới rời đi không lâu.
Nàng nhóm lửa, xiên tim ngựa vào cành cây để nướng. Mỡ nhỏ vào lửa, lách tách vang lên, tỏa ra mùi thơm ch/áy cạnh đầy cám dỗ. Nàng nhìn chằm chằm vào ngọn lửa nhảy múa, ánh mắt trống rỗng.
Ngoài cửa truyền đến tiếng bước chân.
Rất nhẹ, nhưng không giấu được tai nàng. Quan Đại Mai không động đậy, nhưng tay đã đặt lên chuôi đ/ao.
Cửa bị đẩy ra, một lão lính thú khoác áo lông cừu thò đầu vào, nhìn thấy nàng, ngẩn người: “Cô là...”
“Người qua đường.” Quan Đại Mai ngẩng đầu, để ánh lửa chiếu sáng gương mặt mình, “Xin ngụm nước uống.”
Lão lính thú đá/ nh giá nàng-- y phục Bắc Địch cũ nát, đầy m/áu bẩn, mặt mũi tím tái vì lạnh, nhưng đôi mắt rất sáng, sáng đến mức khiến người ta cảm thấy rợn tóc gáy.
“Đến từ phía bắc à?” Lão bước vào, tháo túi nước bên hông đưa cho nàng, “Người Bắc Địch à?”
“Người Trung Nguyên.” Quan Đại Mai nhận lấy túi nước, uống một ngụm lớn. Nước rất lạnh, mang theo mùi tanh của da cừu, nhưng lại khiến đôi môi nứt nẻ của nàng dễ chịu hơn đôi chút.
Lão lính thú ngồi xuống đối diện, lấy trong ngựk ra một chiếc bánh, bẻ một nửa đưa cho nàng: “Ăn đi.”