Tan học, cô ta nói với Tôn Đình bằng tiếng Thượng Hải:
“Đồ người Đông Bắc làm cái PPT quê mùa ch** đi được, may mà tôi đã sửa lại.”
Tôi đi phía sau các cô ta, nghe rõ mồn một.
Quê mùa?
Số liệu tôi kiểm tra từng chữ một, cô bảo là quê mùa.
Vậy thì tự làm đi.
Tôi không bộc phát tại chỗ, chỉ ghi lại chuyện này cùng với những lời cô ta nói.
Về ký túc xá, tôi nhắn tin cho chú Trương:
“Chú Trương, cuối tuần cháu muốn qua xem căn nhà ở Thượng Hải.”
Cuối tuần, tôi đạp xe đến đường Hoài Hải.
Ông chú ở đầu ngõ gọi bằng tiếng Thượng Hải:
“Ôi chao, tiểu thư về rồi à?”
Tôi cũng đáp bằng tiếng Thượng Hải:
“Chào chú, cháu về xem qua một chút ạ.”
Đẩy cửa ra, ánh nắng chiếu vào từ cửa sổ áp mái.
Tôi đứng trong phòng khách, nhìn những tấm ảnh cũ trên tường.
Lại lên lầu cầm chiếc đồng hồ hiệu Thượng Hải cũ kỹ trên tủ đầu giường, ngắm nghía rất lâu trong lòng bàn tay.
Đây là của bà nội.
Mỗi lần nhìn thấy nó, tôi lại nhớ đến lúc nhỏ, bà nội dùng tiếng Thượng Hải gọi tôi ăn cơm.
Những ký ức đó ấm áp hơn nhiều so với những lời mỉa mai lạnh lùng ở trường.
Tuần thứ tư, lớp tổ chức liên hoan, tại một quán ăn món địa phương.
Tôi đến cửa, Trần Tư Nhã sững người:
“Ôi chao, Lý Sảng, sao cậu lại đến đây? Mình cứ tưởng cậu không ăn được món địa phương chứ.”
Tôi cười bảo:
“Đông người cho vui, mình cũng đến góp vui chút.”
Suốt bữa ăn, cô ta và Tôn Đình cứ nói chuyện bằng tiếng Thượng Hải.
Tôi một mình ăn món của mình.
Món địa phương quả thực ngọt, nhưng không hề ngấy bằng những lời lẽ của họ.
Ăn xong, tôi đi một mình.
Đi ngang qua một tiệm mì, tôi vào gọi một bát mì trộn hành.
Cô chủ quán hỏi bằng tiếng Thượng Hải:
“Cô bé, có muốn thêm cay không?”
Tôi theo phản xạ đáp:
“Không cần cay ạ, cảm ơn cô.”
Có một bạn cùng lớp đứng ở cửa, cô ấy sững người.
Chúng tôi nhìn nhau hai giây, cô ấy bỏ đi.
Lúc này tôi mới nhận ra, mình vừa nói tiếng Thượng Hải.
Nói quen miệng mất rồi.
Thôi cũng được, sớm muộn gì cũng không giấu được.
Về đến ký túc xá, nhóm lớp đã bùng n/ổ.
Bạn học đó nhắn tin:
“Này, mọi người nghe tin gì chưa? Hình như cái bạn người Đông Bắc kia biết nói tiếng Thượng Hải?”
Trần Tư Nhã đáp ngay:
“Không thể nào, đến cả câu “cảm ơn” mà cậu ta còn nói không chuẩn cơ mà.”
Tôn Đình:
“Ha ha ha, người Đông Bắc học tiếng Thượng Hải, nghĩ thôi đã thấy buồn cười.”
Tôi nhìn điện thoại, cười khẩy.
Học?
Tôi còn cần phải học sao?
Tôi biết từ bé rồi.
Ngày phân nhóm dự án giữa kỳ, trong lớp ồn ào khủng khiếp.
Môn chuyên ngành học kỳ này phải thực hiện một dự án tổng hợp, chiếm ba mươi phần trăm điểm cuối kỳ.
Cố vấn học tập đứng trên bục giảng, yêu cầu các nhóm tự điều chỉnh thành viên, có vấn đề gì thì nêu ngay tại chỗ.
Khi tôi bước vào lớp, vài bạn học chào tôi.
Tôi cười đáp lại.
Từ đầu học kỳ đến giờ, thái độ của các bạn trong lớp đối với tôi vẫn luôn lạnh nhạt.
Ngoài Trần Tư Nhã và hội của cô ta ra, những người khác cũng không chủ động nói chuyện với tôi.
Tôi đã sớm quen rồi.
Trần Tư Nhã đứng bên bục giảng, cầm danh sách, túm tụm cùng Tôn Đình và hai cô gái Thượng Hải khác bàn bạc.
Bằng tiếng Thượng Hải.
Họ tưởng tôi ngồi hàng ghế cuối, cách xa nên không nghe thấy.
Thật ra tôi nghe rõ từng chữ một.
Trần Tư Nhã:
“Cái đứa người Đông Bắc này là gánh nặng, lần này có thể thay nó ra không?”
Tôn Đình gật đầu ngay:
“Đúng đấy đúng đấy, lần trước PPT cũng là chúng ta làm, nó có biết làm gì đâu.”
Một cô gái khác hạ thấp giọng:
“Thế thì thay ai vào?”
Trần Tư Nhã:
“Ai cũng được, miễn không phải là nó.”
Miễn không phải là tôi.
Hóa ra trong mắt các người, tôi ngay cả tư cách “lấp chỗ trống” cũng không có.
Tôi bóp ch/ặt cây bút trong tay, đ/ốt ngón tay trắng bệch.
Tôi ngồi tại chỗ, tay cầm bút, nghe rõ mồn một.
Cái PPT lần trước là tôi đã thức hai đêm liền để làm.
Các cô ta lấy đi, sửa cái tên rồi coi như của mình.
Giờ lại nói tôi chẳng biết làm gì.
Lời hay tiếng dở gì cũng để các cô ta nói hết cả rồi.
Trần Tư Nhã nói tiếp:
“Chúng ta cứ nói với cố vấn, bảo là nó không hợp tác, làm liên lụy mọi người, thay nó ra là xong.”
Khi họ nói những lời này, giọng không hề nhỏ.
Một vài bạn học khác trong lớp cũng hiểu được, nhìn nhau ngơ ngác, không ai lên tiếng.