Mẹ chồng nhắm mắt lại, rất lâu không mở ra.
Khi mở mắt lần nữa, bà nhìn ta, ánh mắt đã khác xưa.
“Ngày đầu tiên nàng gả vào đây, đã bắt đầu ghi sổ sách rồi sao?”
“Ngày đầu tiên con gả vào đây, thứ con tiếp nhận chính là sổ sách.”
“Nàng muốn thế nào.” Bà hỏi.
Ba chữ này, bà hỏi rất chậm rãi.
Ta nhìn bà.
Bà ngồi ở ghế trên, lưng thẳng tắp.
Thế nhưng tay bà, vẫn luôn ấn ch/ặt trên tay vịn ghế.
Ta khép cuốn sổ lại.
“Con muốn hòa ly.”
Trong đường tĩnh lặng một lúc.
Thúc tổ đặt bút xuống.
“Hòa ly không phải chuyện nhỏ.” Ông nói, “Con hãy nghĩ cho kỹ.”
“Đã nghĩ kỹ rồi.”
“Còn bọn trẻ thì sao?”
“Đi theo con.”
“Cốt nhục của Hầu phủ, không thể mang ra ngoài.” Mẹ chồng đột nhiên lên tiếng.
Ta quay người lại.
“Mẫu thân,” ta nói, “cốt nhục trong phủ này, vừa rồi ở từ đường đã kiểm chứng qua rồi.”
“Hai đứa hòa tan kia, là con của con.”
“Đứa không hòa tan kia, mới là đứa người nên giữ lại.”
Tay mẹ chồng run lên một cái.
Khi Liễu thị bị người ta xốc nách lôi đi, đột nhiên cười một tiếng.
“Ta là đàn bà con gái, thì có thể có chủ ý gì chứ.” Bà ta nói.
Tay mẹ chồng, run lên dữ dội hơn.
Hầu gia từ phía sau bước lên, đứng cạnh bàn thờ.
“Nàng đã tính toán từ trước rồi.” Chàng nói.
Ta nhìn chàng.
“Hầu gia, con không hề tính toán trước.”
“Con ghi chép từ ngày lễ tẩy tam.” Ta nói, “Ghi một phần tư con heo, ghi một giỏ than ẩm, ghi sâm là đảng sâm.”
“Con ghi sổ, là vì con chỉ biết làm mỗi việc này.”
“Con không phải tính toán để ra đi.” Ta nói, “Mà là con bị các người ép, nên chỉ có thể tính toán mà thôi.”
Trong đường không một ai lên tiếng.
Thúc tổ hắng giọng.
“Viết hết xuống đi.”
Ông lùi lại một bước, như thể bị câu nói này đẩy lùi.
Cuốn sổ trên bàn thờ vẫn đang mở.
Trang trên cùng, viết chữ “tu sửa từ đường”.
Lời hòa ly nói ra rồi, trong phủ tĩnh lặng mất hai ngày.
Hai ngày này không ai đến tìm ta.
Ta dọn dẹp đồ đạc của hai đứa trẻ được một nửa, rồi lại đặt xuống.
Xuân Oanh hỏi ta: “Phu nhân, thật sự muốn đi sao?”
“Thật sự đi.”
“Vậy còn chúng con thì sao?”
“Nếu ngươi muốn ở lại, ta không cản.”
Nàng khóc.
Khóc xong, nàng nói sẽ theo ta.
Chiều tối ngày thứ ba, Hầu gia đến.
Chàng không dẫn theo ai.
Chàng ngồi bên bàn, nhìn hai đứa trẻ đang ngủ trong nôi.
“Con ở lại, gia phả cũng ở lại.” Chàng nói, “Đừng đi.”
“Con ở lại, gia phả cũng ở lại.” Ta nói, “Nhưng ta không còn ở đây nữa.”
Chàng ngẩng đầu lên.
“Tri Vi.”
“Hầu gia,” ta nói, “chàng về phủ năm ngày, đã hỏi ta ba câu.”
“Câu thứ nhất là “nàng vì sao phải làm ầm ĩ ở từ đường”. Câu thứ hai là “bà ấy nói nàng không an phận”.”
“Câu thứ ba, là câu vừa rồi.”
“Không có câu nào, là chàng tự mình nghĩ ra cả.”
Tay chàng đặt trên đầu gối, nắm lại, rồi lại buông ra.
“Chấp nhi còn nhỏ.” Chàng nói, “Nó chẳng biết gì cả.”
“Nó không biết mình là con của vợ cả, cũng không biết cha mình là ai.”
“Nó lớn lên rồi sẽ biết.”
“Vậy thì đợi nó lớn lên.” Ta nói.
Chàng đột nhiên lên tiếng lần nữa.
“Chấp nhi hỏi ta, khi nào đệ đệ muội muội mới về.”
“Chàng nói thế nào.”
“Ta nói, sắp rồi.”
“Hầu gia không nên lừa nó.”
“Ta biết.”
Trong phòng im lặng một lúc.
“Ta có thể cưới vợ khác.” Chàng nói, “Nhưng bọn trẻ không thể không có mẹ.”
“Hầu gia,” ta nói, “húng sẽ có một người mẹ. Chỉ là không phải ở trong phủ này.”
“Trung quỹ ta có thể giao cho nàng. Nhị phòng ta sẽ xử lý. Mẫu thân, ta sẽ đưa lên trang trại.”
“Nàng ở lại đi.”
Ta nhìn chàng.
“Vậy câu nói về “xoáy tóc” thì sao?”
Chàng há miệng.
“Câu nói đó,” ta nói, “là mẹ chàng nói trong lễ tẩy tam của con ta. Cả gian phòng đều nghe thấy.”
“Chàng có thể thu hồi nó lại không?”
Chàng không đáp được.
Chàng ngồi đó, hai tay đan vào nhau, rồi lại tách ra.
Chàng có thể cho quyền thế, có thể cho tiền bạc, có thể cho một sự xử lý.
Chàng không thể cho một câu “ta tin nàng”.
Ta trải danh sách của hồi môn ra bàn.
“Ba mươi sáu gánh.” Ta nói, “Khế ước ba gian cửa tiệm, một cặp khóa vàng ròng, một cặp khóa bạc, ba rương bạc thỏi.”
“Ba rương bạc đã bị lấy đi, trung quỹ phải bù lại.”
“Những thứ này, ta phải mang đi.”
“Bọn trẻ,” ta dừng một chút, “ta cũng mang đi.”
Chàng nhìn tờ danh sách đó.
“Nàng định đi đâu.”
“Về nhà mẹ đẻ.” Ta nói, “Cha ta để lại ba gian cửa tiệm, vẫn luôn để trống.”
“Nàng là đàn bà con gái--”
“Hầu gia,” ta c/ắt ngang lời chàng, “trước khi cha ta mất đã để lại ba gian cửa tiệm đó cho ta, nói rằng: Cửa tiệm không đáng tiền, tay nghề mới đáng tiền.”