Ly hôn xong, tôi về ở ẩn tại một ngôi làng hoang vắng.

Ngôi làng rất nhỏ, nhỏ đến mức đứng đầu làng là đã có thể nhìn thấy cuối làng.

Người ở đây cũng không nhiều, đa phần đều là các cụ già.

Họ đi đứng chậm rãi, nói năng chậm rãi.

Ngay cả tiếng ho cũng chậm rãi.

Số lượng người trong làng cứ vơi dần đi qua từng ngày.

Hôm nay đi một người, ngày mai lại đi một người.

Ngôi làng ngày một hiu quạnh.

Cứ cách vài ba bữa, tôi lại nghe thấy một tiếng pháo n/ổ, "đùng" một cái, cửa sổ cũ nát của tôi lại rung lên bần bật.

Tôi biết ngay, lại có thêm một người ra đi.

Trước cửa nhà tôi là một con đường, cứ cách vài ba bữa lại có một đám tang đi ngang qua.

Đây là lúc ngôi làng trở nên náo nhiệt nhất.

Người bưng di ảnh đi ở phía trước, theo sau là những người khiêng bàn bát tiên, trên bàn phủ một tấm vải hoa hòe lòe loẹt, chẳng biết bên trong có phải là hũ cốt hay không.

Phía sau nữa là những người thổi kèn xô-na.

Tiếng kèn vừa cất lên, cả ngôi làng như x/é lòng x/é dạ.

Tiếng kèn thổi đến mức những ngôi nhà cũng bắt đầu đổ sụp.

Hôm nay sập một gian, ngày mai sập một gian.

Đây là một ngôi làng đang ch** dần, luồng khí ủ rũ nơi đây định sẵn những ai bước chân vào đều không thể sống sót mà rời đi.

Vậy mà tôi, kẻ đường cùng, lại đ/âm đầu vào đây.

Sau khi ở ẩn tại ngôi làng ảm đạm này, tôi phát hiện ra rằng dù con người có thanh cao hay tuyệt vọng đến đâu, thì bản chất vẫn không đổi.

Vẫn là thích sự náo nhiệt.

Mỗi lần nghe thấy tiếng kèn xô-na, tôi đều vội vàng chạy ra ban công để xem.

Tôi đứng trên lầu, vươn dài cổ, luôn muốn nhìn cho rõ người trong di ảnh là ai, xem mình có quen biết hay không.

Nhưng hầu hết là không quen.

Người tôi quen chỉ có vài cụ ông cụ bà ở gần đây.

Các cụ ông thích ngồi xổm bên chân tường phơi nắng, nheo mắt lại như mấy con mèo già.

Các cụ bà thì giặt rau, giặt quần áo bên bờ sông, vừa giặt vừa nói thứ phương ngữ mà tôi chẳng hiểu mấy, âm điệu mềm mại, ngọt ngào như đang hát một bài ca cũ.

Tôi thuê một căn nhà hai tầng, giá thuê hai nghìn tệ một năm.

Rẻ thì đúng là rẻ thật.

Nhưng nát thì cũng nát thật.

Nát đến mức như thể mọc ra từ trong đất, mà cũng như thể bất cứ lúc nào cũng có thể thu mình trở lại lòng đất.

Trên tường có những vệt mưa chảy dài, khung cửa sổ bong tróc như da rắn.

Cửa đẩy nhẹ một cái là kêu "kẽo kẹt", như tiếng thời gian đang khẽ thở dài.

Tôi đã bỏ ra gần mười nghìn tệ để sửa sang lại một chút.

Quét lại tường, lát lại nền, dù sao trông cũng giống chỗ để ở hơn.

Chủ nhà vui quá, vung tay một cái, miễn tiền thuê nhà cho tôi hai năm.

Đồ đạc cũ không bỏ món nào, bàn ghế thì sơn phết lại.

Giường cũ bọc thêm tấm vải mới, thế là như được thay da đổi th!t.

Ở ngôi làng này, phần lớn các ngôi nhà đều bỏ trống.

Cửa đóng then cài, khóa đã gỉ sét, trên cửa leo đầy dây leo.

Trên tường thì mọc cả những cây con.

Những ngôi nhà đó đa phần không thể ở được nữa, quá nát rồi.

Nát đến mức ngay cả gió cũng không giữ lại được.

Người trẻ đều đi làm ăn nơi phố thị.

Người già giữ nhà vừa đi, ngôi nhà liền bỏ trống.

Ngôi nhà không có hơi người, hư hỏng nhanh khủng khiếp.

Đầu tiên là ngói lỏng, sau đó tường nứt, rồi tiếp đến, cả mái nhà sụp xuống.

Giống như một người cuối cùng cũng nhắm mắt xuôi tay.

Cát bụi lại trở về với cát bụi.

Vậy nên, đây có lẽ chính là cuộc sống ở ẩn thực sự sao?

Không phải là sống tách biệt khỏi đám đông, mà là dù sống giữa đám đông, nhưng đám đông ấy lại ngày càng thưa thớt, họ sẽ ra đi trước cả khi bạn lìa đời.

Ở đây bạn có thể thoải mái nói ra hết mọi điều, dù bạn có lỡ tiết lộ bí mật gì cũng chẳng sao, đằng nào họ cũng sẽ mang bí mật đó xuống mồ.

Bạn có ân oán với họ cũng chẳng sao, đằng nào họ cũng chẳng sống dai bằng bạn.

Nhưng tôi chỉ là ở ẩn, tôi vẫn chưa muốn ch**.

Thế là tôi thu lại vẻ giả tạo và những lời khách sáo của kẻ ẩn dật, bắt đầu không yên phận nữa.

Tôi muốn trồng trọt.

Nhưng gần nhà chủ trọ không có đất, tôi bèn hỏi cụ bà hàng xóm thuê một mảnh đất với giá hai trăm một năm để trồng rau.

Tôi trồng rau xà lách, rau cải, củ cải, rau diếp, tỏi, ớt, cà chua, cà tím, bí đỏ...

Muốn ăn gì thì trồng nấy.

Bốn mùa quanh năm, ăn không bao giờ hết.

Nơi đây chẳng khác nào chốn đào nguyên.

Đặt đồ ăn cũng không có, nhận chuyển phát nhanh phải ra tận phố.

Phố không xa, đi xe điện mất mười phút.

Trên đường có chó, có những cụ già ngồi thẫn thờ trước cửa.

Bạn đi ngang qua, chú chó nhỏ sủa "gâu gâu" đuổi theo bạn.

Các cụ già thì nhìn bạn chăm chăm.

Nhìn mãi cho đến khi bạn khuất bóng sau khúc quanh.

Thời gian ở đây như bị kéo dài ra.

Sáng sớm thức dậy đi chạy bộ, hoa màu trên ruộng xanh mướt, lũ chim nhỏ đậu thành hàng trên dây điện.

Mặt trời mọc từ phía đông, đôi khi có sương m/ù, mỏng manh như một dải lụa.

Chạy bộ về, nấu bữa sáng, giặt đồ, tưới hoa, tưới rau, quét sân.

Làm hết những việc đó, loay hoay một hồi là hết cả buổi sáng.

Căn bếp của tôi vốn dĩ tồi tàn, ngay cả gạch ốp lát cũng vỡ vụn.

Tôi lấy giấy dán màu trắng để đắp vào, cả căn phòng đầy những miếng vá, nhưng lại mang một phong cách rất riêng.

Tôi m/ua một chiếc giá để gia vị, phát hiện tầng dưới cùng vừa vặn để được bốn chai sữa chua lớn, để gom đủ bốn cái chai này, tôi đã bỏ ra một số tiền lớn m/ua bốn chai sữa chua, uống đến mức phát ngán.

Chẳng vì gì cả, chỉ vì kích thước vừa khít, trông gọn gàng bắt mắt.

Phía trên lại đặt vài chiếc lọ nhỏ đựng muối, bột ngọt, hạt nêm, cũng tương tự như thế, để gom cho đủ bộ lọ, tôi đã m/ua một thùng đồ hộp, ăn đến mức phát ngán.

Chẳng vì gì cả, chỉ vì kích thước vừa khít, trông gọn gàng bắt mắt.

Tôi ngồi trong bếp ăn mì, nhìn những lọ dầu, muối, mắm, giấm ngăn nắp, náo nhiệt của mình, cảm thấy cả thế giới này chỉ còn lại tôi và căn bếp này.

Không cần phải bận tâm đến bất kỳ ai.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Khấu Cốt Dẫn

Chương 10
Đêm trước ngày muội muội gả vào Trấn Bắc Vương phủ, ta chỉ dặn con bé một điều duy nhất: Trong mỗi bức thư gửi về nhà, chữ "Bình An", phần nét chấm của chữ "An" phải cố tình viết thiếu một điểm. Hôm nào nét chấm ấy được bổ sung đầy đủ, ta sẽ đến đón nó về. Con bé cười hì hì ôm lấy cổ ta: "Vương gia đối xử với muội rất tốt, đại tỷ cứ việc chuẩn bị ăn kẹo mừng là được." Ba năm, ta nhận được một trăm linh ba bức thư từ con bé. Mỗi một chữ "An", đều ngay ngắn thiếu đi đúng nét chấm ấy. Tháng trước, Vương phủ sai người đưa tới một hộp bánh quế hoa, bảo rằng Vương phi đã có hỷ tín. Ta thức trắng đêm viết thư hồi âm, dặn dò con bé hạn chế dùng đồ lạnh. Ta là nữ pháp y ở nghĩa trang ngoại ô kinh thành. Sáng nay, nghĩa trang khiêng vào một cỗ thi thể nữ nhân vớt lên từ hồ nước phía sau Vương phủ. Quan sai bịt mũi chê hôi: "Ngâm nước rữa nát hết rồi, chẳng ai nhận diện đâu, cứ đại khái điền tên vào cho xong chuyện." Ta cứng rắn cạy bàn tay đang nắm chặt đến chết của nàng ta ra. Trong lòng bàn tay, khắc sinh sống một chữ "An". Nét chấm ấy... đã khắc sâu thấu cả da thịt. Ta đã tiến hành kiểm nghiệm xương cốt. Nàng chìm dưới đáy hồ, ít gì cũng đã tròn ba năm. Thế nhưng, trong suốt 103 bức thư gửi về suốt ba năm qua, chẳng có lấy một chữ "An" nào được bổ sung đầy đủ nét chấm đó cả. Ba năm nay, kẻ mạo danh con bé viết thư báo bình an cho ta... Rốt cuộc là ai?
106
9 Kẻ điên Chương 18
12 Tâm Sự Cô Đơn Chương 9

Mới cập nhật

Xem thêm