Thẩm Bội Hành, một nữ kế toán tại thương cảng cũ, trong lúc chép lại danh mục của hồi môn đã phát hiện hai khoảnh ruộng do nhà mẹ đẻ quản lý hộ lại bị chồng là Lư Cảnh Hòa liệt kê làm của hồi môn cho Tô Ánh Lan – góa phụ của người anh quá cố – tái giá, nhằm đổi lấy việc nhà họ Ôn rút lại giấy n/ợ hàng hóa đường thủy. Danh mục cũ và biên lai thu thuế ruộng chứng minh Bội Hành chỉ đồng ý dùng tiền thuê ruộng một năm để c/ứu cấp; thế nhưng sổ sách của bà mối, giấy n/ợ hàng hóa và sự làm chứng của họ tộc lại cho thấy Cảnh Hòa đã từng bước biến sự ủy quyền ngắn hạn này thành khế ước chuyển nhượng vĩnh viễn. Đoạn giữa câu chuyện x/ác nhận người anh quá cố quả thực có để lại di nguyện chăm sóc Ánh Lan và giữ lại xưởng nhuộm cho cô, bản thân Ánh Lan cũng từng bị nhà chồng đối xử tệ bạc và phải tự mình kinh doanh xưởng nhuộm để tích lũy lợi nhuận; vấn đề thực sự không nằm ở việc cô có xứng đáng với cuộc sống thứ hai hay không, mà là Cảnh Hòa đã mang ruộng của vợ và hôn kỳ của chị dâu ra để bảo toàn cổ phần tàu thuyền mà anh ta không muốn b/án. Tại buổi họp tộc, Bội Hành công khai nguồn gốc của hồi môn, Ánh Lan công khai nguồn thu nhập từ xưởng nhuộm, cả hai từ chối dùng việc tái giá để thanh toán n/ợ tàu thuyền. Cảnh Hòa buộc phải b/án một phần cổ phần, Bội Hành thu hồi ruộng đất, rời khỏi sổ sách nhà họ Lư để về nhà mẹ đẻ tự lập; Ánh Lan hoãn hôn sự, nhận được phần chia từ xưởng nhuộm và sau đó tự mình từ chối những cuộc hôn nhân không phù hợp. Dù giữ được tài sản và quyền quyết định, Bội Hành chỉ có thể thăm nom đứa con nhỏ vẫn đang sống tại nhà họ Lư theo thỏa thuận, chấp nhận cái giá thực tế là mất đi sự đồng hành hàng ngày cùng con.