Vệ viện phán đỏ hoe mắt, vỗ vỗ vai con trai, chẳng nói lời nào.
Cả nhà chậm rãi bước về con hẻm yên tĩnh ấy.
Lá cây tỳ bà rụng mất một nửa, nửa còn lại vẫn xanh mướt.
Tôi đỡ Vệ Cẩn ngồi xuống, vào bếp nấu một bát mì.
Chàng ăn xong, tắm rửa, thay y phục sạch sẽ, dựa vào giường, nhắm mắt lại.
Tôi lấy quả mai ngâm mật cuối cùng ra, đặt vào lòng bàn tay chàng.
Chàng mở mắt, nhìn quả mai quắt queo, mỉm cười.
"Nàng vẫn giữ à?"
"Chàng từng nói, đợi chàng về cùng ăn mà."
Chàng bỏ quả mai vào miệng, nhai nhai.
"Ngon không?" Tôi hỏi.
Chàng nhìn tôi, ánh mắt dịu dàng.
"Ngon."
Tôi biết là không ngon, đường phèn đã tan, quả mai cũng khô khốc, làm sao có thể ngon được.
Thế nhưng chàng nhai từng miếng một, như thể đang ăn món cao lương mỹ vị gì đó.
Nhai xong, chàng nói: "A Chỉ, hè năm sau, ta lại tìm cho nàng một sọt vải."
Mắt tôi nóng lên, cúi đầu.
"Chàng hứa đấy."
"Ta hứa."
Ngoài cửa sổ, gió đêm khẽ thổi qua cây tỳ bà.
Tôi dựa vào vai chàng, lắng nghe nhịp tim chàng, từng nhịp, trầm ổn và mạnh mẽ.
Chàng còn sống.
Chàng đã về.
Chàng đang ở ngay bên cạnh tôi.
Đây chính là những ngày tháng tốt đẹp nhất trong cả hai kiếp người cộng lại của tôi.
Ngày hè, vải được đưa vào kinh thành.
Ngày hôm sau, vải được đưa đến tận cửa.
Người làm công mang vải đến nói: "Đây là đợt vải đầu tiên của Lĩnh Nam năm nay, phủ Thẩm đặt hai sọt, một sọt gửi đến Tấn Vương phủ, một sọt gửi đến tiểu viện nhà họ Vệ, còn một sọt là Vệ đại phu đặt riêng."
Tôi sững sờ.
Phủ Thẩm?
Năm nay mẹ gửi cho tôi một sọt sao?
Vệ Cẩn từ trong nhà bước ra, lấy một quả, bóc vỏ, đưa cho tôi.
"Nếm thử xem."
Tôi bỏ vào miệng, vị ngọt tan ra trên đầu lưỡi.
Vừa vặn.
"Ngon không?" Chàng hỏi.
"Ngon."
Chàng lại lấy một quả, tự mình ăn, gật đầu: "Đợt này năm nay không tệ, sang năm lại đặt tiếp."
Tôi nhìn hai sọt vải trước mặt, bỗng nhớ về những năm tháng kiếp trước.
Nửa đời đầu kiếp trước, tôi chỉ có thể thèm thuồng nhìn chị cả ăn vải.
Nửa đời sau, là nửa sọt còn sót lại sau khi đã dâng cho đích tỷ.
Giờ đây, tôi cũng có thể sở hữu một sọt vải trọn vẹn, thuộc về chính mình.
Ngoài cửa sổ nắng gắt chói chang.
Vệ Cẩn thấy trán tôi lấm tấm mồ hôi, lại thêm một tảng băng vào chậu băng.
"Đừng để nóng nhé."
Tôi dựa vào vai chàng, nhìn cây tỳ bà cành lá sum suê ngoài cửa sổ.
"Vệ Cẩn, chàng nói xem năm sau cây tỳ bà có kết trái không?"
"Có."
"Ngọt không?"
Chàng ngẫm nghĩ: "Ngọt."
"Nếu không ngọt, ta sẽ làm thành cao tỳ bà cho nương tử pha nước uống, đảm bảo ngọt lịm."
Tôi cười, chàng cũng cười.
Tôi nhắm mắt lại, lắng nghe nhịp tim chàng, dần dần chìm vào giấc ngủ.
Ngoại truyện - Vệ Cẩn
Lần đầu tiên tôi gặp Thẩm Chỉ là ở Giang Nam.
Nhà ngoại tổ có tang, khắp sân treo cờ trắng.
Tôi nấp sau cột hành lang, nhìn người lớn khóc lóc.
Một cô bé đứng ngoài linh đường, mặc áo váy màu lục, búi tóc hai bên, tay nắm ch/ặt một viên kẹo quế hoa.
Cô bé không nỡ ăn, cứ nhìn đi nhìn lại.
Một cô bé lớn hơn bước tới, chìa tay đòi viên kẹo.
Cô bé khựng lại một chút, rồi vẫn đưa cho.
Cô bé lớn hơn lấy kẹo, bước đi vài bước rồi tiện tay ném vào bụi hoa.
Cô bé áo lục nhìn bụi hoa, hốc mắt đỏ lên, môi mím lại, không khóc thành tiếng.
Cô bé đi đến góc tường, ngồi xổm xuống, vùi mặt vào đầu gối.
Vai run run, khóc rất khẽ.
Tôi đứng sau cột hành lang, nhìn cô bé rất lâu.
Khi đó trong túi tôi cũng có một viên kẹo quế hoa, vốn định để dành ăn.
Tôi thừa lúc không ai để ý, đặt viên kẹo xuống cạnh gốc cây bên cạnh cô bé.
Rồi chạy đi.
Chạy thật xa, tôi quay đầu lại nhìn.
Cô bé đã nhặt viên kẹo lên, bóc lớp giấy dầu, bỏ vào miệng.
Đôi mắt vừa khóc xong đỏ hoe, trông như một con thỏ nhỏ.
Đó là lần đầu tiên tôi biết, trên đời này có người khóc mà không phát ra tiếng.
Lần thứ hai gặp nàng là mười năm sau.
Tại xuân yến ở tướng quân phủ, tôi theo cha đến dự.
Đi ngang qua hồ sen, nghe tiếng "tõm" một cái.
Có người rơi xuống nước.
Tôi nhảy xuống, vớt người lên.
Đó là một cô nương trẻ tuổi, ướt sũng toàn thân, lạnh run cầm cập, môi tím tái.
Nàng mở mắt, vẻ mặt hoảng hốt, dù lạnh đến mức không chịu nổi nhưng miệng vẫn lẩm bẩm: "Trâm của ta mất rồi."
Lúc đó mặt nàng đầy nước, lớp trang điểm cũng nhòe đi, trông thảm hại vô cùng.
Nhưng đôi mắt nàng rất sáng, giống hệt con thỏ nhỏ ngồi khóc ở góc tường năm nào.
Tôi nhận ra nàng.
Nàng không nhận ra tôi.
Tôi xuống hồ mò trâm, tìm suốt hai ngày thì thấy.
Hoa ngọc lan trên trâm thiếu mất một cánh, bị nước ngâm nên màu sắc hơi nhạt đi.
Tôi gói vào khăn, cất trong ng/ực, nghĩ bụng khi nào sẽ trả lại cho nàng.
Sau đó chưa kịp trả thì nghe tin nàng sắp gả sang biên ải.
Tôi đến cửa sau phủ Thẩm, muốn gặp nàng một lần, hỏi xem đó có phải là tự nguyện không.
Đợi nửa ngày, một nha hoàn đi ra nói cô nương không tiếp khách.
Tôi đưa trâm cho nha hoàn rồi xoay người bỏ đi.
Sau đó tôi đến Lĩnh Nam, hành y, dạy học, sống một mình.
Có người mai mối, tôi bảo không vội.
Không phải không vội, mà là không muốn tạm bợ.
Cô bé khóc không ra tiếng đó, tôi muốn đợi nàng.
Nhưng nàng không đến.
Sau đó nữa, nghe tin Hầu gia chiến tử, nàng phò linh về kinh.