“Thưa các bậc phụ lão,” ta hắng giọng, tiếng nói không lớn nhưng vẫn vang rõ đến tai từng người, “Bản quan Thẩm Ninh, hôm nay chính thức nhậm chức. Những chuyện cũ trước đây, bản quan không bàn tới. Nhưng từ hôm nay, mọi việc ở huyện Thanh Khê đều là việc của bản quan. Các vị có gì oan khuất, cứ việc đến thưa. Bản quan xin cam đoan, sẽ xử lý công minh, tuyệt đối không thiên vị.”
Trong đám đông dấy lên một làn sóng xôn xao, nhưng phần lớn vẫn nửa tin nửa ngờ.
Ta không nói thêm gì, trực tiếp bắt đầu xử lý công vụ.
Vụ án đầu tiên là một tranh chấp ruộng đất. Một tên cường hào địa phương ngang nhiên chiếm đoạt ruộng đất của hơn mười hộ nông dân. Dân chúng đã kiện tụng nhiều năm nhưng không ai đoái hoài, bởi tên cường hào này có thông đồng với tri huyện tiền nhiệm.
Ta phái người đi điều tra, x/ác minh sự việc đúng như lời tố cáo, liền lập tức ra lệnh trả lại ruộng đất cho nông dân, đồng thời ph/ạt tên cường hào kia một khoản bạc lớn.
Tên cường hào không cam tâm, lớn tiếng dọa sẽ lên phủ thành kiện ta.
“Cứ đi đi,” ta mỉm cười, “Bản quan chờ đây.”
Vụ án thứ hai là một án mạng. Một góa phụ bị vu cáo tư thông và mưu hại phu quân, đã bị tuyên án t//ử h/ình và giam trong ngục hơn nửa năm trời.
Ta cho thẩm tra lại vụ án, phát hiện chứng cứ mâu thuẫn chằng chịt. Sau khi điều tra kỹ lưỡng, hung thủ thực chất chính là em chồng của góa phụ — hắn vì muốn chiếm đoạt gia sản mà hại ch*t anh ruột, rồi đổ tội cho chị dâu.
Ta tuyên bố ngay tại công đường thả tự do cho góa phụ, đồng thời bắt giam tên em chồng.
Góa phụ quỳ rạp xuống đất dập đầu, khóc đến nghẹn ngào: “Thanh thiên đại lão gia! Thanh thiên đại lão gia!”
Ta đỡ bà đứng dậy, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi chua xót.
Nếu kiếp trước có ai chịu đứng ra đòi lại công đạo cho ta, có lẽ ta đã không phải ch*t một cách oan ức đến thế.
Nhưng tiếc thay, chẳng có ai cả.
Công đạo của ta, chỉ có thể tự thân giành lấy.
Suốt ba năm trấn nhậm tại huyện Thanh Khê, ta đã làm được rất nhiều việc —
Dọn sạch án tồn đọng, xét lại hơn trăm vụ án cũ, đòi lại công đạo cho vô số bách tính oan khuất.
Chỉnh đốn bộ máy quan lại, bãi nhiệm một loạt quan lại tham ô vô năng, đề bạt những thanh niên trẻ tuổi có năng lực.
Hưng công thủy lợi, trị thủy sông Thanh Khê, giúp ruộng đồng ven bờ thoát khỏi cảnh lũ lụt triền miên.
Phát triển thương nghiệp, thu hút nhiều thương nhân đến huyện Thanh Khê buôn b/án đầu tư, kinh tế trong huyện nhanh chóng phồn thịnh.
Ba năm sau, huyện Thanh Khê từ một huyện nhỏ nghèo nàn xơ x/ác đã l/ột x/ác thành một vùng đất trù phú nổi tiếng khắp Giang Nam.
Bách tính đã lập sinh từ thờ sống ta, tôn xưng ta là “Thẩm Thanh Thiên”.
Tin tức truyền về kinh thành, Vĩnh An Đế long nhan đại duyệt, ban chỉ triệu ta hồi kinh, thăng chức Giám sát Ngự sử thuộc Ngự sử đài.
Năm ấy, ta vừa tròn hai mươi hai tuổi.
Giám sát Ngự sử, chức quan tuy không lớn, nhưng quyền hạn lại không hề nhỏ.
Chức quan này chủ yếu đảm trách giám sát bách quan, đàn hặc những kẻ làm trái pháp luật. Nói trắng ra, chính là “tai mắt” của hoàng đế, chuyên dùng để giám sát những vị đại thần không chịu quy phục.
Đây là một chức quan dễ đắc tội với người.
Nhưng cũng chính nhờ chức quan này, ta mới thực sự bắt đầu chạm vào trung tâm của bộ máy quan trường Đại Tề.
Sau khi hồi kinh, việc đầu tiên ta làm chính là dâng sớ đàn hặc Triệu Hằng.
Đúng vậy, chính là tên Triệu Hằng từng tìm cách chèn ép ta khắp nơi ở Hàn Lâm Viện năm xưa.
Mấy năm nay hắn nhậm chức tại Công Bộ, lợi dụng chức quyền, ngang nhiên tham ô hối lộ. Nhiều công trình do hắn phụ trách đều bị c/ắt xén vật liệu, chất lượng tồi tệ, thậm chí có cây cầu bị sập khiến người thiệt mạng.
Ta đã dành ba tháng trời để thu thập bằng chứng, viết một bản tấu chương đàn hặc dài dằng dặc, trực tiếp dâng lên ngự tiền.
Vĩnh An Đế xem xong tấu chương, long nhan đại nộ, lập tức hạ chỉ điều tra triệt để Triệu Hằng.
Sau một tháng điều tra, tội trạng đã rõ ràng, Triệu Hằng bị cách chức tước quyền, tịch biên gia sản, lưu đày đến Lĩnh Nam.
Ngày bị áp giải đi đày, Triệu Hằng nhìn thấy ta, đôi mắt đỏ ngầu như sắp nhỏ m/áu.
“Thẩm Ninh!” hắn nghiến răng ken két gào lên, “Ngươi hãy chờ đấy! Ta quyết không buông tha cho ngươi!”
Ta bình thản nhìn hắn: “Triệu huynh, không phải ta không buông tha ngươi, mà là chính ngươi không chịu buông tha bản thân mình.”
Hắn bị áp giải đi.
Sự việc này gây ra một cơn chấn động lớn trong triều. Tất cả đều đã rõ — vị Thẩm Ngự sử mới nhậm chức này, tuyệt đối không phải kẻ dễ b/ắt n/ạt.
Sau vụ của Triệu Hằng, ta tiếp tục dâng sớ đàn hặc thêm nhiều tham quan ô lại khác. Vụ nào cũng chứng cứ x/ác đáng, sắt đ/á như núi, khiến kẻ bị đàn hặc không thể cãi lại nửa lời.
Dần dà, danh tiếng “Thẩm Ngự sử” ngày càng lan rộng, có người kính sợ, có người c/ăm gh/ét, cũng có kẻ ngầm tìm cách lôi kéo.
Lại bộ Thượng thư Vương đại nhân từng tìm gặp ta riêng, cười tủm tỉm nói: “Thẩm Ngự sử trẻ tuổi tài cao, tiền đồ rộng mở. Lão phu có một nữ nhi, vừa tròn mười tám tuổi, thông hiểu lễ nghĩa, không biết Thẩm Ngự sử…”
“Vương đại nhân quá khen,” ta khéo léo từ chối, “hạ quan tạm thời chưa có ý định lập gia thất.”
Sắc mặt Vương đại nhân thoáng biến sắc, nhưng rất nhanh đã lấy lại nụ cười: “Không sao không sao, người trẻ tuổi nên lấy sự nghiệp làm đầu, lão phu rất hiểu.”
Sau khi hắn rời đi, Thanh Đường từ sau bức bình phong thò đầu ra: “Tiểu thư, người lại từ chối một mối hôn sự nữa. Đây là lần thứ mấy rồi ạ?”
“Lần thứ tám.” Ta bình thản đáp.
“Người không sợ người ta nghi ngờ sao? Một nam tử ngoài hai mươi tuổi, không cưới vợ, không nạp thiếp, suốt ngày chỉ biết vùi đầu vào công vụ, nhìn thế nào cũng chẳng bình thường chút nào?”
“Chính vì thế ta mới càng phải tỏ ra bình thường.” Ta đáp, “Càng từ chối nhiều, càng dễ khiến người ta nghi ngờ. Nhưng ta có thể tìm cớ — chẳng hạn như thân thể ta yếu, không thích hợp lập gia thất.”