“Cái cớ đó người đã dùng ba lần rồi.”
“Vậy đổi cái khác đi — ta khắc thê.”
Thanh Đường: “...”
Công việc hàng ngày ở Ngự sử đài rất bận rộn, mỗi ngày đều phải xử lý vô số vụ án đàn hặc và thư tố cáo. Nhưng chính trong sự bận rộn đó, ta đã tìm thấy cảm giác sung túc đã lâu không thấy.
Mỗi bản tấu chương đàn hặc đều là một sự trừng ph/ạt dành cho kẻ tham quan; mỗi vụ án được xử lý công minh đều là sự bảo vệ dành cho bách tính. Cảm giác này, mạnh hơn vạn lần so với chuyện yêu đương nam nữ.
Tuy nhiên, quan trường chưa bao giờ là con đường bằng phẳng.
Sau khi ta đàn hặc vài tên quyền quý, sự trả th/ù liền ập đến.
Có kẻ công khai chất vấn xuất thân của ta ngay trên triều đình, nói ta “lai lịch bất minh”, yêu cầu điều tra tận gốc rễ. Có kẻ tung tin đồn thất thiệt sau lưng, nói ta là “con hoang” của một vị quyền quý nào đó, nhờ qu/an h/ệ mà được thăng tiến. Thậm chí có kẻ còn hiểm đ/ộc hơn, bỏ đ/ộc vào trà của ta — may thay, sau khi bị Tô Vãn Đường hạ đ/ộc ch*t ở kiếp thứ hai, ta đã vô cùng cảnh giác với mọi loại thực phẩm và nước uống, lần nào cũng dùng kim bạc để thử.
đ/ộc không gi*t được ta, nhưng nó khiến ta nhận ra một điều — hoàn cảnh của ta ngày càng nguy hiểm.
Những kẻ quyền quý bị ta đàn hặc sẽ không dễ dàng bỏ qua. Họ sẽ tìm mọi cách để trừ khử ta, hoặc ít nhất là tống cổ ta ra khỏi kinh thành.
Ta cần một chỗ dựa vững chắc hơn. Mà chỗ dựa này, chỉ có thể là chính hoàng đế.
Ta bắt đầu có ý thức tiếp cận Vĩnh An Đế. Không phải bằng cách nịnh hót, mà bằng chính thực lực của mình.
Mỗi buổi chầu, ta đều chuẩn bị kỹ lưỡng, đưa ra những kiến giải đ/ộc đáo cho từng vấn đề. Những đề xuất của ta thường đá/nh trúng trọng tâm, tính khả thi cao, được Vĩnh An Đế vô cùng tán thưởng.
Có một lần, triều đình thảo luận về vấn đề phòng thủ biên cương phía Bắc. Các đại thần mỗi người một ý, tranh cãi không dứt. Kẻ cho rằng nên tăng quân, kẻ cho rằng nên hòa đàm, lại có kẻ bảo rằng cứ bỏ quách mấy cứ điểm biên giới đi cho rảnh n/ợ, thu hẹp phòng tuyến.
Ta bước ra, đưa ra một phương án trung dung — không tăng quân, cũng không hòa đàm, mà là thiết lập đồn điền quân đội ngay tại biên giới, để binh lính vừa cày cấy vừa canh giữ. Cách này vừa giải quyết được vấn đề lương thực quân nhu, lại không làm tăng gánh nặng tài chính cho triều đình.
Vĩnh An Đế nghe xong, mắt sáng rực lên: “Ý tưởng của Thẩm khanh không tồi, nói rõ hơn xem nào.”
Ta trình bày chi tiết về phương án đồn điền quân đội, từ cách chọn địa điểm, phân chia ruộng đất đến quản lý binh lính. Từng chi tiết đều được cân nhắc kỹ lưỡng, hiển nhiên là đã được suy nghĩ rất thấu đáo.
Sau buổi chầu, Vĩnh An Đế triệu kiến riêng ta: “Thẩm khanh,” ông nhìn ta, ánh mắt vừa có sự xét nét, vừa có sự tán thưởng, “Phương án của ngươi rất hay, trẫm quyết định sẽ áp dụng. Nhưng trẫm tò mò hơn là — ngươi là văn quan, sao lại am hiểu quân sự đến thế?”
“Tam thúc của thần là võ tướng,” ta đáp, “Thần từ nhỏ được nghe nhiều thấy nhiều, nên cũng biết đôi chút.”
“Ồ? Tam thúc của ngươi là ai?”
“Thẩm Sùng Võ.”
Biểu cảm của Vĩnh An Đế thay đổi: “Thẩm Sùng Võ là tam thúc của ngươi? Vậy Thẩm Sùng Lễ là...”
“Là tộc thúc của thần ạ.” Ta cúi đầu.
“Hóa ra là vậy,” Vĩnh An Đế gật đầu, “Thẩm gia một nhà trung liệt, quả nhiên danh bất hư truyền.”
Ông dừng lại một chút, bỗng hỏi một câu khiến tim ta đ/ập lo/ạn nhịp: “Thẩm khanh, ngươi đã có tự chưa?”
“Thần tự là... Ninh Chi.”
“Ninh Chi,” Vĩnh An Đế lẩm nhẩm một lần, “Tự rất hay. Từ hôm nay, ngươi hãy ở lại bên cạnh trẫm. Trẫm phong ngươi làm Thị ngự sử, kiêm Hàn lâm viện Thị giảng.”
Thị ngự sử là chức quan Tòng ngũ phẩm, cao hơn Giám sát Ngự sử nửa bậc. Nhưng quan trọng hơn là danh hiệu “Hàn lâm viện Thị giảng” — điều này có nghĩa là ta có thể thường xuyên ra vào cung đình, giảng sách cho hoàng đế, trở thành cận thần bên cạnh ngài.
Từ ngày đó, ta chính thức trở thành tâm phúc của Vĩnh An Đế.
Công việc của Thị ngự sử phức tạp hơn nhiều. Ta không còn chỉ là đàn hặc quan viên, mà đã tham gia vào các quyết sách cốt lõi của triều đình. Mỗi ngày ta vào cung từ khi trời chưa sáng, hầu hạ Vĩnh An Đế bàn việc chính sự tại Ngự thư phòng. Từ chuyện đại sự quân quốc, đến việc nhỏ như chính vụ địa phương, Vĩnh An Đế đều trưng cầu ý kiến của ta.
Ta cũng không phụ sự tin tưởng của ngài — mỗi đề xuất của ta đều được suy tính kỹ lưỡng, vừa cân nhắc lợi ích triều đình, vừa quan tâm đến nỗi khổ của bách tính.
Vĩnh An Đế từng cảm thán: “Thẩm Ninh Chi, ngươi chính là Trương Lương của trẫm.”
Trương Lương là công thần khai quốc nhà Hán, nổi tiếng với trí mưu. Vĩnh An Đế ví ta với Trương Lương, đây là sự đá/nh giá cực kỳ cao.
Nhưng ta biết, làm bạn với vua như làm bạn với hổ. Sự tin tưởng của hoàng đế là thứ không đáng tin nhất. Hôm nay ngài có thể nâng ngươi lên tận mây xanh, ngày mai có thể đẩy ngươi xuống địa ngục.
Vì vậy, ta càng phải thận trọng và cẩn trọng hơn.
Sau hai năm ở bên cạnh Vĩnh An Đế, ta tham gia vào một dự án lớn — biên soạn “Đại Tề Hội Điển”. “Đại Tề Hội Điển” là bộ sách tổng hợp các điển chương chế độ toàn diện nhất kể từ khi Đại Tề lập quốc, bao quát mọi mặt từ chính trị, kinh tế, quân sự đến văn hóa. Biên soạn bộ sách này cần tra c/ứu lượng lớn hồ sơ và tài liệu, khối lượng công việc cực kỳ đồ sộ.
Ta được bổ nhiệm làm Phó tổng biên soạn, chịu trách nhiệm công việc biên soạn cụ thể. Đây là cơ hội tuyệt vời để ta thể hiện tài năng. Ta đã dành trọn ba năm, làm việc không kể ngày đêm.