“Tôi đã bốc gạch ở lò gạch suốt hai tháng,” tôi giơ hai ngón tay, lắc lắc trước mặt cậu ta, “Hai tháng, mỗi ngày làm từ sáu giờ sáng đến bảy giờ tối, một viên gạch hai ly tiền, tôi đã bốc sáu trăm nghìn viên, làm mòn bốn đôi găng tay, tay đầy vết phồng rộp, về nhà phải dùng kim châm mới nắm ch/ặt tay lại được.”
“Tôi b/án mạng như thế, là vì lúc đó tôi thấy anh nói đúng, anh học hành có tương lai, tôi gả cho anh chính là tương lai của tôi.”
Tôi nhìn vào mắt cậu ta, từng chữ từng chữ nói: “Nhưng bây giờ tôi thấy không đúng nữa.”
“Tương lai của tôi, dựa vào cái gì mà phải treo lên người anh?”
Chu Minh Viễn há miệng, muốn nói gì đó, nhưng cuối cùng chẳng thốt ra được câu nào.
Cậu ta đứng dậy, lùi lại một bước, rồi lại một bước, như thể muốn làm quen lại với tôi, nhìn chằm chằm vào tôi không rời mắt.
“Em thay đổi rồi,” cậu ta khàn giọng nói, “Lâm Tú Vân, em thay đổi rồi.”
“Đúng, tôi thay đổi rồi.” Tôi đứng dậy, buộc ch/ặt miệng bao tải dứa, xách đến chân tường, “Anh cũng nên thay đổi đi thôi.”
“Em đừng tưởng thi đậu sư phạm là gh/ê g/ớm lắm!” Cậu ta nắm ch/ặt tay, “Một đứa con gái nông thôn như em, không tiền không thế, học xong cũng chỉ là kẻ đi dạy học nghèo nàn! Em cứ đợi đấy, Chu Minh Viễn tôi rồi sẽ có ngày khiến em phải với không tới!”
Tôi dừng bước.
Không phải vì lời cậu ta làm tôi d/ao động, mà vì câu nói này quá đỗi quen thuộc.
Kiếp trước, sau khi cậu ta công thành danh toại, đứng trên bậc thềm hội nghị học thuật, cũng dùng giọng điệu bề trên đó nói với trợ lý của mình một câu tương tự.
“Cô ta và tôi không phải người cùng thế giới, một đứa con gái nông thôn, đuổi cô ta đi cho tôi.”
Lúc đó cậu ta mặc vest may đo, tay đeo đồng hồ hiệu, bên cạnh đứng con gái của giáo sư.
Lúc đó cậu ta thấy, sự hy sinh của tôi là hiển nhiên, sự nghèo khó của tôi là đáng đời, sự tồn tại của tôi là đáng x/ấu hổ.
Từ nay về sau, thời thế đã xoay chuyển rồi.
8.
Xe khách đến, vẫn là chiếc xe Hoàng Hà cũ kỹ đó, thân xe xóc nảy trên con đường đất đầy ổ gà, ống xả phụt ra những làn khói đen sì.
Tôi xách bao tải lên xe, tìm một chỗ ngồi cạnh cửa sổ.
Tôi ép tờ giấy báo nhập học vào lồng ng/ực, tim đ/ập rất nhanh.
Ngoài cửa sổ, mùa hè năm 2000 giống như một bức tranh năm mới đã phai màu, từ từ rời khỏi tầm mắt tôi.
Đại học Sư phạm tỉnh nằm ở phía đông thành phố, sát một con sông.
Trên tấm bia đ/á trước cổng trường khắc tên trường, nét chữ đoan trang, tô sơn vàng, ánh mặt trời chiếu vào lấp lánh.
Bác bảo vệ ngồi trong phòng trực nghe đài, truyện kể đang đến đoạn Nhạc Phi đại chiến Kim Ngột Thuật, tiếng gõ bảng gỗ “bộp” một cái, bác bảo vệ cũng hào hứng vỗ tay khen ngợi.
Tôi đứng trước cổng trường, hít một hơi thật sâu, bước chân vào cổng trường.
Những ngày sau khi nhập học thuận lợi hơn tôi tưởng.
Các môn học của khoa Ngữ văn không quá khó, vốn dĩ nền tảng của tôi không tệ, cộng thêm việc kiếp trước đã tự học rất nhiều thứ ở xưởng điện tử, tạo thành thói quen đọc sách, nên chương trình đại học đối với tôi thậm chí còn dư dả.
Cuối học kỳ đầu tiên, trường dán danh sách công khai học bổng.
Học bổng loại một, hai nghìn tệ, Lâm Tú Vân.
Trước bảng tin của khoa vây kín người, có người đọc tên tôi, có người hỏi “Lâm Tú Vân là ai”, có người chỉ vào danh sách nói “chính là người thi Ngữ văn hạng hai toàn tỉnh đó”.
Tôi đi ngang qua phía sau đám đông, bạn cùng phòng Tống Tiểu Miên kéo tay tôi, mặt đỏ bừng vì phấn khích.
“Tú Vân! Cậu giành được học bổng loại một rồi! Hai nghìn tệ!”
“Thấy rồi,” tôi cười nhạt, “Tối nay mời cậu ăn ở căng tin.”
“Còn lại thì để dành,” tôi nói như đã quen, “Học phí học kỳ sau vẫn chưa biết tính sao.”
Tống Tiểu Miên sững người, ánh mắt nhìn tôi thay đổi.
Có lẽ cậu ấy muốn hỏi nhà tôi có khó khăn lắm không, nhưng cậu ấy không hỏi.
Cậu ấy chỉ siết ch/ặt tay tôi, nói: “Đi, đến căng tin, tớ muốn ăn th!t kho tàu! Tú Vân của chúng ta là giỏi nhất!”
Kiếp trước khi nhận được tháng lương đầu tiên, tôi cũng làm vậy - giữ lại tiền ăn, còn lại gửi hết đi.
Kiếp này vẫn vậy.
Nhưng đối tượng để dành tiền đã đổi khác, kiếp này, tôi sẽ không bao giờ đặt bất kỳ ai lên trước bản thân mình nữa.
Sau khi kết thúc học kỳ đầu, tôi bắt đầu tìm việc làm thêm.
Cơ hội làm thêm ở tỉnh nhiều hơn ở huyện rất nhiều, tôi nhanh chóng tìm được việc ở một tiệm in ấn - giúp người ta dàn trang, đá/nh máy, photo, một tiếng ba tệ.
Ông chủ là một người đàn ông ngoài bốn mươi, họ Lưu, đeo kính cận dày cộp, bụng bia làm chiếc cúc áo sơ mi căng lên chực đ/ứt.
Khi ông ấy thấy tốc độ đá/nh máy ngũ bút của tôi, mắt ông ấy trợn ngược lên.
“Trước đây cháu từng tập rồi à?” ông ấy hỏi.
“Dạ,” tôi nói, “Tự học ạ.”
Đây là sự thật.
Kiếp trước ở xưởng điện tử, kỹ năng đầu tiên tôi tự học chính là ngũ bút.
Vì trong xưởng cần nhập liệu, người biết ngũ bút có thể ngồi văn phòng, không phải đứng dây chuyền.
Tôi mất một tháng để học thuộc bộ chữ, lại mất một tháng luyện tốc độ, cuối cùng được điều từ dây chuyền lên văn phòng.
Lương không tăng bao nhiêu, nhưng ít nhất không phải vặn ốc vít nữa.
Tiếc là sau đó Chu Minh Viễn muốn học tiến sĩ, cần một khoản học phí, tôi lại chủ động xin điều về dây chuyền - vì dây chuyền có tiền làm thêm giờ, tiền làm thêm giờ nhiều hơn trợ cấp văn phòng.”
}