Ngày Kỷ Lâm Châu đến nhà tôi dạm hỏi, mẹ tôi đã hầm cả một con gà mái già.
Từ đầu đến cuối, anh chẳng thèm nhìn con gà ấy lấy một lần, cũng chẳng buồn ngó mẹ tôi.
Mẹ anh chỉ ăn lưng chén cơm, lúc đặt đũa xuống mới buông một câu: “Vị rất quen thuộc, đậm chất nhà làm.”
Tay mẹ tôi run lên.
Tối hôm đó, anh đưa tôi về nhà. Trong xe không bật đèn.
Anh bảo đám cưới sẽ tổ chức vào tháng 5, không đi trăng mật đâu vì dự án đang bận. Sau khi cưới, tôi phải nghỉ việc, vì mẹ anh cần người chăm sóc.
Giọng điệu anh nghe như đang giao việc.
Tôi hỏi: “Kỷ Lâm Châu, có khoảnh khắc nào dù chỉ là một giây, anh thực sự tôn trọng tôi không?”
Anh nghiêng đầu nhìn tôi, nhíu mày, thốt ra năm chữ: “Em đang làm trò gì vậy.”
Tôi đẩy cửa bước xuống xe, không hề ngoái lại.
Ngày hôm sau, tôi m/ua một vé tàu đi Hạ Môn.
8 tiếng đồng hồ, đủ để tôi nghĩ thông một chuyện——
6 năm trước, anh từng nắm ch/ặt tay tôi mà nói: “Tống Thời Kính, em là cô gái tuyệt vời nhất anh từng gặp.”
6 năm sau tôi mới hiểu ra, cô gái tuyệt vời nhất trong mắt anh, rốt cuộc chỉ là một người giúp việc tiện dụng, miễn phí, và vĩnh viễn sẽ không bao giờ nộp đơn nghỉ việc.
Vậy thì tôi không làm nữa.
Tôi tên là Tống Thời Kính. Tống trong triều Tống, Thời trong thời gian, Kính trong tấm gương.
Bố tôi là giáo viên dạy Văn ở trường cấp ba thị trấn, cả đời gắn bó với nghề trồng người. Điều khiến ông tự hào nhất không phải là được phong học hàm cao cấp, mà là đặt cho con gái một cái tên đ/ộc nhất vô nhị trong b/án kính 50 dặm.
Thời Kính. Lấy thời gian làm tấm gương soi, để biết rõ được mất.
Bố tôi từng nói, đời người sẽ đi qua rất nhiều ngả đường, nhưng chỉ khi lấy thời gian làm tấm gương soi, ta mới biết rốt cuộc mình đã nhận được gì và đá/nh mất điều gì.
Có lẽ ông cũng không ngờ, con gái ông phải mất trọn 6 năm, mới thực sự học được cách soi gương.
Năm tôi quen Kỷ Lâm Châu, tôi 24 tuổi.
Khi ấy, tôi làm trợ lý thiết kế nội thất cho một văn phòng kiến trúc ở Bắc Kinh. Lương không cao, nhưng đủ nuôi sống bản thân.
Nhà thuê ở Thông Châu, ngày nào tôi cũng chen chúc trên tuyến Bát Thông để đi làm. Lúc chuyển tàu ở ga Quốc Mậu, dòng người đẩy tôi đi, chân gần như chẳng cần chạm đất.
Tôi từng cảm thấy mình thật sự rất xuất chúng.
Một cô gái xuất thân từ thành phố nhỏ hạng ba miền Bắc, không gia thế, không qu/an h/ệ, chỉ dựa vào đôi tay mình mà có được một góc làm việc riêng trong tòa nhà văn phòng cao tầng ở Quốc Mậu.
Dù góc làm việc ấy chỉ dài 2 mét, rộng 1,5 mét, trên vách ngăn còn dính tờ giấy nhớ của người tiền nhiệm quên bóc đi——nhưng đó là của tôi.
Tôi vốn là người dễ hài lòng. Hay phải nói, tôi của thời điểm đó, vẫn còn là một người dễ hài lòng.
Tôi quen Kỷ Lâm Châu trong một buổi đấu thầu dự án bất động sản. Sếp tôi đưa tôi đi mở mang tầm mắt. Hội trường chật kín hơn trăm người, những bộ vest và váy công sở tạo thành một khu rừng đen kịt.
Tôi ngồi ở hàng cuối, cuốn brochure thiết kế của công ty trải dài trên đầu gối, trong lòng thầm nhẩm lại lời dẫn cho buổi thuyết trình với bên chủ đầu tư lát nữa.
Kỷ Lâm Châu ngồi ở hàng ngay trước tôi.
Hôm đó, anh đại diện cho bên chủ đầu tư đến dự. PwC nhận thẩm định tài chính cho dự án bất động sản này, và anh là trưởng nhóm phụ trách.
Giờ nghỉ giải lao, anh đứng dậy nghe điện thoại, lúc xoay người, cặp tài liệu vô tình quệt phải ly cà phê của tôi.
Nửa ly latte đổ ướt brochure của tôi. Tôi cuống cuồ/ng lấy khăn giấy lau, anh cúp máy, ngồi xổm xuống giúp tôi dọn dẹp.
“Xin lỗi, thật sự xin lỗi em.”
Anh dùng tay áo lau vết cà phê trên brochure. Cổ tay áo kẻ sọc trắng cứ thế ngâm trong vũng latte.
Tôi bảo không sao đâu, dù sao brochure cũng in dư vài bản.
Anh ngẩng đầu nhìn tôi, hơi sững lại, rồi mỉm cười.
Nụ cười ấy rất trong trẻo.
Không phải kiểu cười xã giao được rèn giũa kỹ lưỡng trong các buổi họp thương mại, mà là nụ cười của một chàng trai trẻ, hơi ngô nghê, phảng phất chút áy náy.
Hoàn toàn trái ngược với Kỷ Lâm Châu sau này, kẻ vuốt tóc ngược ra sau, khoác áo len cashmere xám đến nhà tôi “thị sát”.
Anh nói: “Hôm khác anh mời em ăn cơm, đền em ly cà phê nhé.”
Tôi đáp: “Được thôi. Nhưng em muốn uống cà phê thật, không phải Starbucks đâu.”
Anh cười, bảo: “Được, em nói gì cũng được.”
Tan ca hôm đó, tôi bước ra khỏi tòa nhà văn phòng, phát hiện anh đang đứng chờ ngoài cửa xoay.
Gió mùa thu Bắc Kinh thổi lệch chút cà vạt xanh thẫm của anh. Thấy tôi, anh vẫy tay: “Đi thôi, đã hứa mời em uống cà phê mà.”
Tôi hỏi: “Không phải hẹn hôm khác sao?”
Anh đáp: “Anh sợ hôm khác em sẽ quên mất anh.”
Tối hôm đó, chúng tôi ngồi trong một quán cà phê dưới chân tòa nhà Quốc Mậu 3, trò chuyện suốt 3 tiếng đồng hồ.
Anh kể về những ngày du học ở Cambridge, mùa đông đạp xe đi chợ m/ua đồ, trên đường ngã 3 lần.
Tôi kể về mô hình đồ án tốt nghiệp bị nhóm bên cạnh vô tình làm đổ vào đêm trước ngày triển lãm, tôi ngồi khóc nửa tiếng trong phòng thực hành rồi lắp ráp lại từ đầu.
Anh nói về dự án, về khách hàng, về định hướng nghề nghiệp của mình.
Tôi chia sẻ về thiết kế, về sự ám ảnh với màu sắc, và giấc mơ mở studio riêng.
Nói chuyện đến khi quán đóng cửa, anh đưa tôi ra ga tàu điện.
Đến cửa ga, tôi bảo anh về đi. Anh đứng yên, hai tay đút túi quần tây, nói một câu khiến tôi khắc ghi nhiều năm trời.
“Tống Thời Kính, em khác những cô gái khác.”
Tôi hỏi khác ở chỗ nào.